10/08/2013

THỰC HƯ GIÁ TRỊ HẠT GẠO

Tác giả: Unknown viết lúc 10/08/2013 | 10.8.13

 
Cách đây hơn 10 năm, thời còn sinh viên lêu bêu, tôi hay về miền Tây chơi và có một tình cảm đặc biệt với vùng đất này. Vùng nông thôn hiền hòa, êm đềm, giản dị và người dân miền Tây hồn hậu, chân chất dễ dàng chiếm lĩnh tâm trí tôi, tự nhiên như thể tôi là một người con xứ sở này vậy. Có lẽ do bản tính của tôi có phần nào đó phù hợp với thổ nhưỡng nơi đây. Nơi tôi hay đến là một vùng trồng cây ăn trái, chủ yếu là nhãn. Đủ thứ nhãn: da bò, tiêu, nước, xuồng,... Tới các vườn để mua trái cây ở đây rất thú vị: hái ăn thoải mái không mất tiền, mang về mới tính tiền. Rộng rãi là vậy, nhưng xem ra chẳng là gì so với giá nhãn bấy giờ. Có những thời điểm thương lái thu mua chưa tới 500 đồng một kí, nhiều chủ vườn chẳng thèm bán, mặc cho chim ăn, nẫu rụng. Một số chủ vườn nghe ngóng thấy loại cây khác có giá trị hơn, lại chặt bỏ vườn nhãn mình để tìm một khởi đầu mới. Nguyên nhân chủ yếu được xác định là"thương lái ép giá", tức là người nông dân làm ra sản phẩm nhưng lại không được quyết định giá thành bán ra. Vấn nạn này không chỉ có ở cây ăn trái miền Tây mà phổ biến ở nhiều loại nông sản khác, đặc biệt là lúa gạo, ảnh hưởng đến "nồi cơm" của người nông dân cả nước. Mười mấy năm nay "cán cân quyền lực" này dường như không có mấy thay đổi cho dù nước ta đã vươn lên thành nhà xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Báo chí, truyền thông năm này qua năm khác vẫn rỉ rả bài ca "được mùa mất giá" (một quy luật thị trường nhưng không hiểu sao lại là "chuyện khó hiểu" đối với giới truyền thông) và một trong những tác nhân chính được chỉ ra vẫn là "thương lái ép giá". Nhiều giải pháp của nhà nước đưa ra để hỗ trợ nông dân nhưng chưa đưa lại hiệu quả như mong muốn. Có nhiều lý do, nhưng tôi nghĩ một trong những lý do căn bản xuất phát từ chính cung cách làm ăn của những người nông dân. Suy nghĩ đó của tôi ấp ủ từ thuở về miền Tây và cho đến bây giờ vẫn thấy đúng. Nhân đọc bài viết của ông tiến sĩ Nguyễn Văn Tuấn chê chính sách nhà nước trong việc người nông dân phải bán gạo với giá thấp, bên cạnh việc phê phán bài viết của ông ấy, tôi cũng tìm hiểu thêm một số bài viết, bài báo khác nhưng thấy hầu hết chỉ thấy dừng lại ở việc phản ánh tình trạng và "khóc giùm" cho người nông dân chứ chưa thấy chỉ ra được giải pháp nào thiết thực. Lạ lùng hơn nữa là dù ai cũng chỉ ra được thực tế nhức nhối"thương lái ép giá" nhưng tôi chẳng thấy giải pháp nào nhắm vào việc xử lý trực tiếp vấn nạn đó mà lại luẩn quẩn với những chuyện cao siêu nào đó như thể vấn nạn đó là một điều kiện khách quan và hiển nhiên vậy.

Những mối quan hệ trong sản xuất nông sản

Có rất nhiều yếu tố, thành phần tham gia vào vòng đời hạt gạo từ khi được ủ giống đến khi đến tay người tiêu dùng. Những thành phần chính có thể kể ra như sau:
1. Đầu vào: Giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nông cụ, thiết bị nông nghiệp,..
2. Sản xuất: người nông dân
3. Đầu ra: các nhà phân phối, nhà xuất nhập khẩu,...
4. Môi trường quản lý: các chính sách nông nghiệp, XNK, thuế, ... của nhà nước và địa phương, trung tâm khuyến nông, các ngành phụ trợ,...

Giữa các thành phần này sẽ có những mối quan hệ, liên kết để tạo thành một chuỗi giá trị:
⍟ Theo chiều dọc:
① Mối quan hệ giữa Đầu vào và Sản xuất: giữa những doanh nghiệp cung cấp giống, thuốc BVTV, phân bón, máy móc nông nghiệp,... với người nông dân.
② Mối quan hệ giữa Sản xuất và Đầu ra: giữa người nông dân với các doanh nghiệp thu mua, phân phối, xuất nhập khẩu...
③ Mối quan hệ giữa Đầu ra với Thị trường: giữa nhà phân phối, XNK, nhà buôn,... với thị trường xuất khẩu và thị trường nội địa,..
⍟ Theo chiều ngang: mối quan hệ cạnh tranh / hợp tác giữa các doanh nghiệp cùng lĩnh vực, mối quan hệ gắn kết giữa những người nông dân với nhau.

Nhìn vào các mối quan hệ này, có thể thấy rằng để tăng mức lợi nhuận của người nông dân thì phải kết hợp các yếu tố như: giảm chi phí đầu vào, tăng giá bán đầu ra, tăng năng suất lao động, giảm tiêu hao lãng phí nguyên vật liệu,...
Trong các yếu tố này, hiện tại người nông dân chỉ có thể chủ động được về năng suất lao động, mức tiêu hao nguyên vật liệu. Các chương trình hỗ trợ về tài chính (miễn thuế nông nghiệp, hỗ trợ lãi suất mua giống / phân bón,...), về kỹ thuật (chính sách "3 giảm, 3 tăng": Giảm lượng giống gieo sạ, giảm lượng thuốc BVTV, giảm lượng phân đạm; tăng năng suất, tăng chất lượng, tăng hiệu quả kinh tế) trong thời gian vừa qua đã góp phần đưa nông dân nước ta trở thành những nhà sản xuất có năng suất lao động hàng đầu khu vực. Theo tờ Bưu điện Bangkok, số ra ngày 22/01/2011, nhờ những chính sách này của chính phủ Việt Nam mà năng suất trồng lúa của Việt Nam cao nhất Đông Nam Á trong khi chi phí lại ít hơn. Bài báo lấy ví dụ: chi phí sản xuất trung bình của nông dân ở Cần Thơ khoảng 4.978 baht/rai, thấp hơn 822 baht/rai so với nông dân tại Ayutthaya (5.800 baht/rai), trong khi năng suất lại cao gần gấp đôi.[Rai: là một đơn vị đo lường của Thái, tương đương 40m x 40m = 1600m2].

Những tưởng năng suất lao động tăng, chi phí đầu vào giảm là điều kiện lý tưởng và chính yếu để người sản xuất có thể yên tâm an hưởng thành quả của mình nhưng sự đời không đơn giản như vậy. Lúa gạo, nông sản không giống như những loại hàng hóa mà người sản xuất có thể kết nối trực tiếp với thị trường, bởi lẽ người nông dân không đủ vốn, tri thức, sự đồng bộ để có thể tự mình làm điều đó. Do đó, người nông dân sau khi hoàn thành "thiên chức" cày cấy của mình, lại hoàn toàn phó thác thành quả lao động của mình cho các nhà phân phối, nhà xuất nhập khẩu. Điều đó cũng có thể xem là lẽ thường tình trong thị trường nhưng đáng nói là ngay trong mối liên kết này, người nông dân cũng không tự chủ động được mà lại phải thông qua một lớp trung gian khác: các thương lái nhỏ lẻ. Để tạo ra thêm một đồng lợi nhuận trong quá trình sản xuất là không đơn giản nhưng cái lợi nhuận bé nhỏ ấy hoàn toàn có thể bị"hô biến" vào túi các thương lái một cách dễ dàng. Thất thoát trong khâu này là một trong những cản trở chính đối với thu nhập của người nông dân và ảnh hưởng không nhỏ tới sức cạnh tranh của gạo Việt Nam trên thị trường.

Thương lái đã chen vào giữa nông dân và nhà phân phối, XNK như thế nào?Đây chắc chắn là một vấn đề mang tính lịch sử, tập quán, không chỉ riêng có ở Việt Nam. Chỉ có điều, cái tập quán của nền sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ ấy đã không còn phù hợp với quy mô, đặc điểm thị trường hiện nay, là tác nhân chính gây nên sự bất bình đẳng trong phân phối lợi ích giữa các thành phần tham gia trong chuỗi, đồng thời cản trở sức cạnh tranh của sản phẩm.

Nền kinh tế Việt Nam đang lò dò từ kinh tế nông nghiệp lạc hậu sang kinh tế công nghiệp - dịch vụ nên có rất nhiều lỗ hổng, kẽ hở, giữa những bộ phận kinh tế với nhau. Điều này cũng giống như những cấu kiện máy móc mới khi lắp ráp vào với nhau cần phải có thời gian rô đai, phải có dầu mỡ bôi trơn. "Dầu mỡ" trong kinh doanh bất động sản là cò nhà đất, trong giao nhận vận chuyển là các công ty tiếp vận nhỏ lẻ, trong nông sản là thương lái,... Bất cứ chỗ nào mà các "bánh răng chuyển động"chính chưa thể ăn khớp nhịp nhàng được với nhau thì ở đó thành phần trung gian sẽ xuất hiện.

Là thành phần trung gian (phụ) nhưng các thương lái lại ở thế "trên cơ" thành phần sản xuất chính là vì sao? Tại sao các nhà phân phối, nhà xuất nhập khẩu lại chấp nhận thành phần trung gian này dù điều đó cũng có nghĩa rằng giá cả họ thu mua vào sẽ cao hơn nếu làm trực tiếp với nông dân? Những nguyên nhân chính có thể kể đến là:

Người nông dân ngoài việc sản xuất ra, không có các kỹ năng khác để tạo hướng ra cho sản phẩm của mình. Thành phần lao động nông nghiệp rất lớn nhưng họ chỉ là những cá thể rời rạc chứ không tạo thành những tập thể vững mạnh, dẫn đến việc dễ dàng bị thương lái thao túng như chuyện bẻ từng chiếc đũa.

Người nông dân thiếu vốn, cơ sở hạ tầng (kho, bãi) để có thể dự trữ lúa gạo trong thời gian dài. Do đó họ gặp áp lực phải bán được lúa càng sớm càng tốt sau mỗi vụ mùa.
Tập quán làm nông manh mún, chạy theo tâm lý đám đông, dẫn đến phá vỡ các cấu trúc quy hoạch, sản phẩm tăng vọt trong khi nhu cầu thị trường không đổi, cơ sở vật chất phụ trợ không theo kịp, tạo điều kiện cho thương lái ép giá.
Các nhà phân phối, xuất nhập khẩu làm ăn theo kiểu bóc ngắn cắn dài, chỉ tập trung vào hoạt động thương mại chứ không chăm lo đến nguồn nguyên liệu. Thậm chí, những thương lái trung gian còn là "sân sau" của lãnh đạo các công ty phân phối, xuất nhập khẩu. Bằng hình thức này, họ sẽ bóc tách được một phần giá trị hạt gạo lý ra thuộc về người nông dân và doanh nghiệp, bỏ vào túi cá nhân.
Giá trị hạt gạo bị bóp nghẹt thế nào?Từ nhiều năm nay, Việt Nam đã trở thành nước đứng hàng đầu về xuất khẩu gạo nhưng nghịch lý là giá gạo của chúng ta lại thường đứng "đội sổ" trong danh sách những gã khổng lồ về sản lượng gạo! Đặc biệt trong khoảng thời gian 6 tháng đầu năm nay, giá gạo liên tục giảm và chạm đáy vào tháng 06. Nhiều lý do quen thuộc lại được các nhà xuất khẩu viện dẫn như: nhu cầu thế giới giảm, gạo Việt chưa có thương hiệu, chất lượng gạo Việt không bằng gạo nước khác,... Và hòa cùng tiếng ta thán của người nông dân, các nhà xuất khẩu cũng không ngừng than thở về những khoản thua lỗ mà mình đang phải gánh chịu. Nghe ra thì cũng hợp lý, nhưng những điều đó có hàm lượng sự thật đến mức nào?

Theo thống kê và dự báo mới nhất của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), nhu cầu nhập khẩu gạo năm 2013 sẽ đạt 38,6 triệu tấn, giảm hơn nửa triệu tấn so với năm 2012 nhưng tăng gần 6,7 triệu tấn so với ba năm trước. Do đó có thể thấy nhu cầu thực sự của thế giới biến động không đáng kể. Việt Nam là nguồn cung ổn định, truyền thống và giá rẻ cho thế giới trong nhiều năm qua nên chắc chắn chút biến đổi của nhu cầu thế giới kia không ảnh hưởng đáng kể đến việc cạnh tranh của hạt gạo Việt Nam.

Chuyện gạo Việt Nam chưa có thương hiệu là điều đáng tiếc nhưng đó không phải là vấn đề mới. Hàng chục năm nay người ta vẫn tìm đến thị trường cung cấp gạo Việt Nam mặc dù "thương hiệu" vẫn là một thứ mù mờ. Còn nói chất lượng gạo Việt không bằng gạo nước ngoài là vô căn cứ. Theo các chuyên gia về gạo trả lời trên phương tiện truyền thông và các hội thảo chuyên ngành thì chất lượng gạo Việt Nam không hề thua kém bất cứ đối thủ cạnh tranh nào. Chẳng nhìn đâu xa, chính những thứ gạo tiêu thụ nội địa đang "khoác áo" gạo Nhật, Thái, Hàn,... cũng chỉ là gạo sản xuất trong nước (có thể giống gạo nước ngoài).

Vậy thì nguyên nhân thực sự vì đâu mà giá gạo Việt Nam lại thấp hơn Thái Lan trên 100USD/tấn và hàng chục USD/tấn so với Ấn Độ, Pakistan? Có thể là gì khác ngoài năng lực yếu kém của các doanh nghiệp xuất khẩu Việt? Có thể kể ra một số yếu tố như sau:

Các doanh nghiệp xuất khẩu (nhất là các doanh nghiệp nhà nước) thời gian vừa qua được thừa hưởng nhiều lợi ích từ các hợp đồng chính phủ nên khi loại hợp đồng này sụt giảm, họ "chới với" khi phải tìm kiếm những đơn đặt hàng khác. Năng lực đàm phán, tìm kiếm thị trường, hoạt động ngoại thương của các doanh nghiệp Việt còn nhiều hạn chế.
Các doanh nghiệp xuất khẩu ỷ y vì họ "làm chủ" được đầu vào, tức họ áp đặt được mức giá lên người nông dân nên họ dễ dàng nhượng bộ trước đối tác mua gạo. Sau đó, họ đem cái gánh nặng về giá trút lên người nông dân. Họ sẵn sàng bán thật rẻ để đạt được sản lượng gạo xuất khẩu lớn nhất, và vì thế lợi nhuận họ thu về cũng không hề giảm (hoặc không đáng kể) nếu so với việc phải cạnh tranh giá với các nước khác.
Cũng như cách làm ăn manh mún của người nông dân, những doanh nghiệp xuất khẩu gạo Việt hầu hết có quy mô nhỏ. Nhưng thay vì liên kết với nhau để đấu với doanh nghiệp nước ngoài, họ lại lợi dụng sự "xông xênh" biên độ dưới (giá mua) để vô tư dùng giá để chèn ép lẫn nhau. Cuối cùng, đối tác nước ngoài là người được hưởng lợi lớn nhất và nông dân Việt lại là người gánh "cục nợ" sinh ra bởi sự kèn cựa giữa các doanh nghiệp Việt.Nói gọn lại, doanh nghiệp xuất khẩu gạo Việt đối với thị trường quốc tế thì "rắn buông" để quay lại "mềm nắn" nông dân trong nước. Đây là một tình trạng rất nguy hiểm đối với không chỉ quyền lợi của người nông dân mà còn đối với sự phát triển của ngành ngoại thương Việt Nam, chí ít là trong lĩnh vực nông nghiệp.

Ngoài ra, một vấn đề mà mọi người ít để ý là giá gạo tiêu thụ nội địa của Việt Nam lại không hề thấp! Theo số liệu thống kê năm 2012, tổng sản lượng lúa cả nước là 43,66 triệu tấn, sản lượng gạo xuất khẩu là 8,05 triệu tấn; lượng gạo tồn kho khoảng 0,7 - 0,8 triệu tấn, lượng lúa tiêu thụ là 29 triệu tấn (khoảng 17,5 triệu tấn gạo theo tỷ lệ lúa : gạo là 1:0,6). Như vậy lượng lúa tiêu thụ chiếm khoảng 2/3 tổng sản lượng toàn quốc. Giá gạo tại thị trường bán lẻ giao động trong khoảng từ 12.000 đồng / kg đến trên 20.000 đồng/kg, chưa kể các loại gạo "khoác áo ngoại quốc". Tức là giá bán lẻ gạo trong nước tối thiểu là 560 USD / tấn, nhiều hơn giá gạo xuất khẩu tháng 07 khoảng 170USD/tấn! Trừ đi các chi phí vận chuyển, kho bãi thì mức chênh lệch giữa giá lúa xuất khẩu và tiêu thụ nội địa cũng rất lớn. Như vậy, đại đa số người dân Việt chúng ta đều đang bị "thua toàn tập" trong vụ lúa gạo này: nông dân bán giá thấp, người tiêu dùng mua giá cao, xuất khẩu giá thấp,... chỉ có "tầng lớp trung gian" là sống khỏe!

Để có một giải pháp toàn diện, triệt để từ các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý và để đến khi nó đem lại kết quả thiết thực thì còn mất nhiều thời gian, nhiều tiền của. Tuy nhiên, trong lúc đó, những người nông dân có thể tự cứu mình hay không? Tôi nghĩ là có và tôi sẽ trình bày suy nghĩ của mình trong bài viết sau.
Nguồn:blog Đôi Mắt

22 nhận xét

15:39 11 tháng 8, 2013 Reply

Việt Nam cần phải nâng cao được chất lượng xuất khẩu của hạt gạo, phải làm được như Thái Lan ấy. Khi đấy chắc chắn lượng tiền ngoại tệ thu về được qua việc xuất khẩu gạo sẽ tăng lên rất nhiều. Làm được như vậy thì vừa có lợi cho người nông dân vừa mang lại lợi cho đất nước!

15:49 11 tháng 8, 2013 Reply

Cần có sự đầu tư hỗ trợ của Nhà nước trong việc chế biến lúa gạo, giảm thiệt hại sau thu hoạch, chế biến các sản phẩm từ hạt gạo để nâng giá trị của hạt gạo Việt Nam. Quan tâm hơn đến thị trường nội địa, vì hiện nay dân thành thị nước ta đang chuộng ăn gạo nhập khẩu từ Nhật Bản, Thái Lan. Đã đến lúc mở thêm cuộc vận động: “Người Việt Nam ưu tiên dùng gạo Việt Nam”.
Để có được sức cạnh tranh, người trồng lúa Việt Nam cần có những thay đổi trong tập quán canh tác. Chiến lược cánh đồng mẫu lớn cần được nhân rộng, các loại giống lúa chất lượng cao cũng phải dần được thay thế giống lúa phẩm cấp thấp hiện nay. Tin rằng, với những nỗ lực từ Chính phủ, các bộ, ngành, các DN và người trồng lúa, hạt gạo Việt Nam sẽ có đủ sức cạnh tranh trên thị trường lúa gạo thế giới.

22:21 23 tháng 8, 2013 Reply

Việt Nam là một trong những quốc gia xuất khẩu gạo đứng hàng đầu thế giới (về số lượng), nhưng giá bán của gạo Việt Nam lại luôn đứng trong nhóm thấp nhất trên thị trường toàn cầu. Lỗi ở đây là ở đâu? Là ở nhân dân hay nhà nước chưa có cơ chế tốt để phát huy những lợi thế nhất định của nước ta?

22:23 23 tháng 8, 2013 Reply

Hạt gạo, qua chế biến thành thực phẩm công nghệ, đã tăng giá trị lên hơn gấp hai lần và giúp giảm xuất khẩu thô gạo kém hiệu quả hơn nhiều. Phát triển sản phẩm mới từ hạt gạo, còn là cứu cánh giúp các doanh nghiệp đa dạng hoá sản phẩm, tăng thêm sự lựa chọn cho người tiêu dùng, tạo sức hút kéo khách mua hàng để thoát khỏi tình trạng sức mua đang sút giảm hiện nay.

22:36 23 tháng 8, 2013 Reply

Cái vấn đề này gần như nói thường xuyên. Nếu chúng ta để ý sẽ thấy hàng năm các tỉnh đều cử cán bộ đi tham quan các mô hình ti6u thụ nông sản ở nước ngoài - nhưng có cải thiện gì đâu? Còn các doanh nghiệp nhà nước thì có sân sau bên nước ngoài - dĩ nhiên đặt lợi ích của DN sân sau lên hàng đầu!

22:37 23 tháng 8, 2013 Reply

Nhà quản lý cần đưa ra các chính sách cụ thể mang tính chất vừa ép buộc, vừa khuyến khích DN bắt tay với nông dân thì cục diện mới dần dần thay đổi được. Chính phủ có thể có chính sách hỗ trợ DN làm cánh đồng mẫu lớn và hỗ trợ nông dân tham gia cánh đồng mẫu lớn. Đây là cách để chúng ta thoát khỏi tình trạng như hiện tại và dần dần mọi câu chuyện sẽ được giải quyết.

22:37 23 tháng 8, 2013 Reply

Dù là câu chuyện nâng cao chất lượng gạo ra sao, xây dựng thương hiệu gạo XK thế nào, hay cần điều chỉnh gì trong chính sách XK gạo thì quan trọng nhất để tháo gỡ mọi khúc mắc và dần nâng cao giá trị hạt gạo của Việt Nam đó là các nhà quản lý phải vào cuộc. Quả bóng đang nằm trong chân các nhà quản lý và vấn đề là họ phải xắn tay vào thực tế, chứ chẳng ai chịu nhúc nhích thì không thể thay đổi.

22:39 23 tháng 8, 2013 Reply

Gạo chúng ta xuất ra nước ngoài rất rẻ, gạo trong nước thì không rẻ. Đồng bào vùng sâu vùng xa vẫn thiếu đói, phải ăn ngô thay gạo. Việc lưu thông của chúng ta có nhiều vấn đề, bảo quản thiếu đầu tư của nhà nước. Thến nên giá trị hạt gạo ở nước ta còn chưa được coi trọng....

22:40 23 tháng 8, 2013 Reply

Chúng ta không nên xem yếu tố tài nguyên, lao động nhiều, giá nhân công rẻ là những lợi thế so sánh nữa mà phải nâng cao yếu tố tri thức trong sản xuất và quản lý; đồng thời, tập trung phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ xuất khẩu, đánh giá lại sản xuất; từng bước hình thành vùng sản xuất hàng hoá lớn; ứng dụng sâu rộng công nghệ sinh học,... Hơn nữa, cũng cần quan tâm hơn tới các giải pháp về thị trường nhằm chủ động phát triển hoạt động xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường xuất khẩu.

22:46 23 tháng 8, 2013 Reply

Cùng với chất lượng của sản phẩm chưa cạnh tranh được trên thị trường thế giới dẫn đến sự bấp bênh và thiếu bền vững của thương hiệu gạo Việt Nam, còn một nguyên nhân sâu xa nữa chính là ở vấn đề thu nhập của người làm ra lúa gạo hiện nay còn thấp. Thực tế nhiều năm qua cũng đã chứng minh, với nông dân, dù là người trực tiếp làm ra lúa gạo song vẫn chưa được hưởng đúng với công sức bỏ ra và thu nhập luôn không ổn định, tăng giảm theo giá thị trường.

22:47 23 tháng 8, 2013 Reply

Thực tế trong xuất khẩu gạo cũng cho thấy, việc liên kết giữa các nhà sản xuất, doanh nghiệp chế biến xuất khẩu còn lỏng lẻo, chưa hình thành được chuỗi cung ứng xuất khẩu dẫn đến hiệu quả xuất khẩu chưa tương xứng so với tiềm năng. Đó là nguyên nhân chính dẫn tới việc nông sản của nước ta đặc biệt là gạo chưa thể có chỗ đứng trên thị trường thế giới được

22:47 23 tháng 8, 2013 Reply

Cần sớm xây dựng thương hiệu gạo Việt, bắt đầu từ khâu sản xuất giống. Và việc xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam để khẳng định giá trị hạt gạo rất cần sự chung tay của các nhà khoa học về giống, các doanh nghiệp về thị trường, bao tiêu sản phẩm, các ngân hàng trong cung cấp vốn tín dụng ưu đãi, nhất là Nhà nước cần ban hành các cơ chế, chính sách riêng để khuyến khích các thành phần kinh tế trên tham gia vào chuỗi xây dựng thương hiệu cho hạt gạo.

22:49 23 tháng 8, 2013 Reply

Cơ chế, chính sách hợp lý sẽ thúc đẩy đầu tư tư nhân tăng lên trong lĩnh vực lúa gạo, tăng thêm nhiều doanh nghiệp kinh doanh trong nông nghiệp theo hướng xây dựng những cánh đồng mẫu lớn để triển khai công nghiệp hóa. Hi vọng nhà nước sẽ sớm tìm ra cách khắc phục tình trạng hạt gạo của chúng ta không có vị trí trên thị trường quốc tế

22:50 23 tháng 8, 2013 Reply

Cần có sự đầu tư hỗ trợ của Nhà nước trong việc chế biến lúa gạo, giảm thiệt hại sau thu hoạch, chế biến các sản phẩm từ hạt gạo để nâng giá trị của hạt gạo Việt Nam. Quan tâm hơn đến thị trường nội địa, vì hiện nay dân thành thị nước ta đang chuộng ăn gạo nhập khẩu từ Nhật Bản, Thái Lan. Đã đến lúc mở thêm cuộc vận động: “Người Việt Nam ưu tiên dùng gạo Việt Nam”.

22:52 23 tháng 8, 2013 Reply

Để có được sức cạnh tranh, người trồng lúa Việt Nam cần có những thay đổi trong tập quán canh tác. Chiến lược cánh đồng mẫu lớn cần được nhân rộng, các loại giống lúa chất lượng cao cũng phải dần được thay thế giống lúa phẩm cấp thấp hiện nay.

23:20 23 tháng 8, 2013 Reply

Đúng là phải ra nước ngoài, phải đến tận từng thị trường để nắm bắt được nhu cầu của mỗi thị trường. Điều này mong chờ ở các cơ quan ngoại giao, thương mại và các doanh nghiệp XK gạo cũng như bà con người Việt ở khắp nơi trên thế giới. Nếu không xuất khẩu được gạo và các nông sản khác, sẽ rất khó nâng được mức sống của người nông dân.

23:21 23 tháng 8, 2013 Reply

Người Việt Nam sống ở các nước cũng là đầu mối tiếp thị cho hạt gao Việt ở những nước họ đang sống. Người Việt trong nước cần ưu tiên dùng gạo nội. Không nên dùng gạo nhập khẩu chỉ vì sính ngoai. Gạo Việt cũng có rất nhiều loại gạo ngon.

23:22 23 tháng 8, 2013 Reply

Nếu cứ ngồi ở Việt Nam mà chờ khách hàng tới mua thì không bao giờ bán được đâu. Muốn bán được cần phải nghiên cứu và am hiểu luật chơi ở từng nước. Thêm một chút hỗ trợ từ nhà nước và các doanh nghiệp nữa thì gạo nước ta sẽ có chỗ đứng trên thị trường quốc tế và cạnh tranh với các loại gạo khác trên thị trường

23:24 23 tháng 8, 2013 Reply

Xuất khẩu với số lượng lớn nhưng giá cả thiếu cạnh tranh, trị giá hạt gạo Việt Nam giảm sút trên thị trường thế giới. Đây là một thực trạng đáng báo động, không phải đến bây giờ mới thế mà từ rất lâu rồi. Trên thị trường, chính các DN trong nước tự cạnh tranh với nhau gây ảnh hưởng tới giá. Nhà nước nên điều tiết các DN để họ không tự hạ thấp giá trị hạt gạo VN khi đem đi xuất khẩu

23:24 23 tháng 8, 2013 Reply

Nâng cao chất lượng gạo thương phẩm, tăng giá trị hạt gạo Việt Nam, cốt lõi bài toán giống và sản xuất đại trà cần tập trung giải quyết. Muốn như vậy, ngay thời điểm hiện nay, quản lý chất lượng giống lúa cần đi vào chiều sâu và quản lý theo quy trình nghiêm ngặt, hiện đại. Bộ quy chuẩn giống xác nhận, nguyên chủng, siêu nguyên chủng... cần được thực hiện thật nghiêm túc

23:29 23 tháng 8, 2013 Reply

Ở trong nước, để làm ra hạt gạo, người nông dân Việt Nam đang phải vật lộn với bao khó khăn, từ thiên tai, lũ bão, đến việc tăng giá của tất cả các loại vật tư đầu vào như giống, phân bón, xăng dầu… dẫn đến giá thành của hạt gạo Việt Nam tăng cao, giảm sức cạnh tranh so với gạo XK từ các nước cũng là nguyên nhân dẫn tới sức cạnh tranh kém của hạt gạo Việt Nam khi đi ra quốc tế

23:30 23 tháng 8, 2013 Reply

DN vẫn quen cách làm việc cũ, giờ muốn họ bắt tay với nông dân mà chỉ bằng mệnh lệnh hành chính thôi thì không thể có kết quả gì. Nhà quản lý cần đưa ra các chính sách cụ thể mang tính chất vừa ép buộc, vừa khuyến khích DN bắt tay với nông dân thì cục diện mới dần dần thay đổi được.

Đăng nhận xét

Cám ơn đã đọc bài viết!
- Mọi thắc mắc, gợi ý hoặc bình luận xin chia sẻ bên dưới hoặc Gửi thư hay Báo lỗi
- Hãy viết bằng tiếng Việt có dấu để mọi người dễ đọc hơn!
- Chèn link bằng thẻ: <a href="Link" rel="nofollow">Tên</a>
- Tạo chữ <b>đậm</b> <i>Ngiêng</i>
Thank You!