07/08/2014

VÉN BỨC MÀN HỘI NGHỊ THÀNH ĐÔ NĂM 1990: NÊN HAY KHÔNG NÊN?

Tác giả: Mõ Làng viết lúc 07/08/2014 | 7.8.14

Mẹ Đốp
Lịch sử luôn có những khúc quanh mà trách nhiệm của hậu thế, thế hệ hôm nay không chỉ mỗi việc đi giải mã nó mà còn phải trả lời cho được vì sao từng đó thời gian nó vẫn còn nằm trong bí mật.  

Với nhiều người Việt Nam thì có phần lạ lẫm khi nhắc đến Hội nghị Thành Đô được tổ chức trong vòng hai ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990 tại tỉnh Tứ Xuyên, TQ. Sở dĩ có điều này bởi nó thuận theo thỏa thuận của những nhà lãnh đạo có mặt tại Hội nghị và đó cũng là lí do cho đến nay gần 25 năm những nội dung đã được thỏa thuận vẫn đang nằm trong vòng bí mật. Tuy nhiên, câu chuyện đặt ra là đã nên giải mật cho một hội nghị mà từ lâu nhiều người đã lãng quên và nên chăng trách nhiệm giải mật đó chỉ thuộc về Việt Nam hay cần có một sự thỏa thuận nữa trước khi có những công bố chính thức? Và việc đặt câu chuyện Thành Đô trong mối tương quan với Công hàm của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từ năm 1958 và cả nội dung Cố Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch liệu đã hợp hay đó cũng chỉ là một trong những sự trùng hợp mà đến nay vẫn chưa có một lời giải? Xin mạn đàm về những câu hỏi mà chưa có một bài viết nào dám thẳng thắn đề cập và phân tích sâu. 

Có thể nói, từ sau đổi mới năm 1986 đến nay, quan hệ hai nhà nước, hai dân tộc Việt Nam - Trung Quốc chưa bao giờ có những dấu hiệu đi xuống, thăng trầm như hiện nay. Việc TQ hạ đặt giàn khoan HD981 trái phép trên Biển Đông và hàng loạt hành động gây hấn của TQ trên Biển Đông thực sự đã động chạm vào những gì người Việt lâu nay được TQ hứa và tuyên bố trên nhiều diễn đàn. Nhiều học giả đã không ngần ngại khi đặt ra những dấu hỏi và dám phủ nhận những nội dung "16 chữ vàng" và quan hệ "04 tốt" mà Việt Nam - TQ đã từng ký kết. Và cho đến nay, dù TQ đã rút chiếc giàn khoan phi pháp ra khỏi thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam thì mối quan hệ cấp nhà nước và đối tác trên các lĩnh vực của hai nước vẫn chưa có những dấu hiệu ấm lên. Về nguyên nhân thì không ngoài những hành động tuyên bố phi pháp tiếp theo và việc nhà nước TQ kiên trì theo đuổi yêu sách đường chín đoạn trên Biển Đông. Chính vì vậy, dù đã xua đi những nguy cơ mang tính trực diện thì việc xảy ra một tình huống tương tự như vừa qua hoàn toàn có thể xảy ra trên Biển Đông. 

Với tinh thần đó, để đối phó toàn diện và đấu tranh để TQ không có một cái cớ nào cho những hành động gây hấn trên Biển Đông, nhiều học giả, chuyên gia về Biển đảo, lãnh thổ đã cho rằng nên chăng đã đến lúc vén bức màn bí mật xung quanh quan hệ Việt Nam - TQ để tránh những bài học đau đớn chúng ta đã từng gặp phải liên quan công hàm của Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng? Bởi họ cho rằng, việc TQ dám đưa giàn khoan và lực lượng bảo vệ giàn khoan, tàu ngư chính và cả quân đội ngang nhiên vào biển đông vì công hàm của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã công nhận thay cho họ? Song xin hỏi rằng, suy nghĩ như vậy đã đúng chưa, hay suy cho cùng đó cũng chỉ là một cách tiếp tay cho những sự cáo buộc mà báo chí và cơ quan truyền thông TQ không ngừng xuyên tạc. 

Công hàm năm 1958 của Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng không phải thời gian gần đây mới được công bố. Nó đã được TQ công bố sau những chiến thắng cuối cùng của dân tộc ta trước bè lũ xâm lược tay sai Mỹ - Ngụy trong sự kiện 30.4.1975. Cũng từng đó năm, TQ đang cố tình dẫn dụ công luận hiểu đó là một sự công nhận thực tế của Chính phủ hợp pháp tại Việt Nam mà quên mất đi rằng, bối cảnh công bố công hàm là thời chiến, quan hệ hai miền Nam - Bắc là hai mặt trận mà dân tộc Việt Nam đang cố gắng không lặp lại nỗi đau hai miền Nam - Bắc Triều. Bối cảnh thời chiến cùng bức tranh quan hệ Việt - Trung đã đủ để giải mã rằng, công hàm 1958 đơn thuần là một sự kiện hoàn toàn hợp lý trong thời điểm đó. Dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam chưa bao giờ công nhận chế độ Việt Nam Cộng hòa như một chính thể đối lập và cho đến nay cũng thế nhưng không có nghĩa là chúng ta phủ nhận luôn dấu ấn, sự có mặt của họ tại một khu vực rộng lớn của dân tộc ở phía Nam trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thân yêu. Máu và nước mắt của những đứa con của dân tộc Việt (những chiến sỹ Hải Quân dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa) đã ngã xuống trên những mảnh đất xa xôi ngoài biển khơi được xem là một minh chứng hùng hồn. 

Vả lại, lâu nay, TQ vẫn duy trì một luận điệu là có xương, hài cốt của người TQ trên những khu vực mà họ đang chiêm đóng như minh chứng rằng sự có mặt của họ trên đó là có thực tế. Vậy, hà cớ gì chúng ta lại không trân trọng những quyền chiếm đóng thực tế của Hải quân Việt Nam cộng hòa với tư cách là những công dân Việt thay vì công nhận giá trị pháp lý của một công hàm?  Cho nên nếu nói rằng, cần thiết công bố, vén bức màn bí mật tại Thành Đô để tránh việc rơi vào thế bị động lần hai như Công hàm 1958 không khác gì đang hiểu sai, tiếp tay cho những luận điều mà TQ đang cố bấu víu trong những đòn tấn công pháp lý và lịch sử lên dân tộc Việt Nam. Và nên chăng, chúng ta có nên cố đi tìm một lời giải cho Công hàm 1958 để lí giải tại sao TQ cố vin vào đó để hành động thay vì lại mở ra một vấn đề mới khi vấn đề cũ đang bị sử dụng như một thứ vũ khí chống lại dân tộc ta. 

Những luận điệu được RFA khi cho rằng: "Lịch sử cho thấy bất cứ sự thỏa hiệp mờ ám nào dù tinh vi tới đâu cũng bị lật tẩy. Không ai có thể buộc kẻ thù không được công bố những gì mà trong quá khứ đã trót bằng lòng với chúng. Câu chuyện công hàm Phạm Văn Đồng là một thí dụ lớn nhất mà nhà nước có thể lấy làm bài học vì thời gian dù có bao lâu vẫn không mài mất được chữ ký của một Thủ tướng" không khác gì giọng điệu của bộ máy tuyên truyền của TQ vẫn rêu rao. Tôi cũng tự hỏi rằng, nói về Hội nghị Thành Đô năm 1990 trong tương quan với Công hàm 1958 phải chăng những người gợi mở vấn đề đang bàn về những giải pháp hữu hiệu cho cuộc chiến chống âm mưu bành trướng của TQ sắp tới hay họ đang nói thay luận điệu của người TQ?

                          Hội nghị Thành đô 1990 (Ảnh do RFA cung cấp). 

Chúng ta cũng nên yên tâm rằng, một khi TQ chưa công bố, chưa sử dụng chúng vào cuộc chiến pháp lý, lịch sử với Việt Nam trên Biển Đông chỉ có thể là không có tác dụng hoặc sẽ gây bất lợi cho họ. Vì vậy, việc xem xét mối tương quan đó dù với mục đích gì đều trở nên vô hiệu và không có một chút khả thi nào. 


Chưa hết, việc đòi đưa Hội nghị Thành Đô năm 1990 ra ánh sáng còn được viện dẫn một lí do khác liên quan việc Cố Bộ trường Bộ Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch ("Năm 2004 tập hồi ký của nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch cho thấy phần nào sự bí ẩn phía sau khi ông bị Trung Quốc gạt ra khỏi Hội Nghị vì quan điểm chống Trung Quốc công khai của ông. Yếu tố này một lần nữa chứng minh sự gượng ép của những người đại diện Việt Nam tham gia hội nghị và mãi một phần tư thế kỷ sau đó bí mật vẫn bao trùm câu chuyện Thành Đô" - Theo RFA). Phải chăng, việc TQ yêu cầu Viêt Nam điều kiện để bình thường quan hệ ngoại giao là "loại bỏ Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch" (Sau sự kiện chiến tranh Biên giới phía Bắc quan hệ Việt Nam - TQ rơi vào bế tắc và đã được cải thiện đáng kể sau năm 1990) là điều có thật? Và nếu thật thì phải chăng cuộc chiến tranh Biên giới phía Bắc Việt Nam ở vào thế thua hay cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đó là phi nghĩa. 

Rõ ràng, chúng ta trở về sau cuộc chiến tranh Biên giới phía Bắc dù có đau thương nhưng với tư thế của một quốc gia chiến thắng, chiến thắng cả về lí lẽ chính nghĩa. TQ đã phải rút quân chính vì họ đã bị công luận thế giới lên án và ca ngợi sự quật cường, anh dũng của dân tộc Việt. Cho nên, nếu nói rằng để đổi lại những sự nồng ấm trong quan hệ với TQ mà Việt Nam phải nhượng bộ thì e rằng đó là chuyện hết sức khó hiểu, là bông đùa. Dân tộc ta đã chịu những tổn thất không nhỏ trong cuộc chiến đó và nếu có chuyện tiếp tục chịu những nhượng bộ như kiểu ban ơn từ một nước lớn sẽ không giống như khí phách của dân tộc Việt. 

Trên bình diện đó, nên chăng chúng ta nên đặt vấn đề(nếu có) của Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch vào một lí nào khác hơn thay vì gán cho nó một cái danh xưng "sức ép từ nước lớn". Hãy nhìn vào những gì người Việt đã làm trước con phong ba mang tên Giàn khoan HD981 của người TQ. Những vị lãnh đạo của chúng ta đã không ngần ngại lên tiếng và hiệu triệu người Việt hướng về Tổ quốc lúc có những biến chuyển và triệu triệu người Việt đã đồng lòng. Và trong vô vàn những lí do khiến TQ phải rút giàn khoan sẽ là thiếu sót nếu không tính đến yếu tố đó. Vì vậy, nghĩ về Hội nghị Thành Đô nên chăng chỉ nên xem đó là một Hội nghị song phương giữa hai nước và đó có thể là một dấu mốc cho sự nồng ấm quan hệ Việt - Trung sau chiến tranh Biên giới phía Bắc với mục đích phá thế bao vây cấm vận của các nước lớn, nhằm tạo điều kiện cho hòa bình, phát triển, cứu nguy dân tộc.

Là câu chuyện của quá khứ, và trên thực tế nó không có gì ảnh hưởng tác động đến hôm nay. 25 năm đủ sức tạo ra sự khác biệt với một thế hệ lãnh đạo hoàn toàn mới với những tư tưởng mới. 
Hãy để quá khứ ngủ yên như nó hằng muốn./.

4 nhận xét

08:00 8 tháng 8, 2014 Reply

Công nhận, lâu lâu không đọc báo, giờ vào thấy các cụ, các chiến hữu xã hội dân sự lôi đâu ra cái hội nghị thành đô
Đọc cả bài của bác mõ thì cũng nhận ra được một số lí do trong đó. Cũng nhai đi nhai lại luận điệu VN dâng hiến đất thông qua công hàm thủ tướng của bọn dâm sự. Nên cũng chả còm gì nhiều

23:08 8 tháng 8, 2014 Reply

Đang hăng say đọc vì bài viết đầu tư nhiều chất xám, cung cấp nhiều thông tin rất hay thì bị tụt hứng bởi một cụm từ "Vả lại..." của tác giả.

15:32 10 tháng 8, 2014 Reply

Công nhận những bộ xương trên đó để khẳng định chủ quyền của trung quốc à nghe thật là nực cười tổ cha nó thế người Việt Nam chết ở trung quốc thì coi mẹ lãnh thổ của tàu khựa là của Việt Nam luôn đi, sao bọn tàu khựa có kiểu tư duy lô dích điên khùng như thế nhỉ, thế những di tích lịch sử cột mốc ở hoàng Sa Trường sa thì bọn tàu khựa nó mù không thấy chắc mà dùng những cái giọng điệu điên cuồng như thế, mới đây mấy thằng chó tàu khựa còn vận động unesscco công nhận di tích văn hóa thế giới, thật khó hiểu cho lối tư duy hoang đông đương của đám tàu khựa

15:33 10 tháng 8, 2014 Reply

Thủ pháp dùng từ của bọn thời báo hoàn cầu vô cùng thâm độc chúng cậy kinh tế đã mạnh rồi nên muốn lật lọng lợi dụng sự việc hội nghị thành đô không được công bố nên chúng đã cố tình bóp méo sự thật một vô lí, lại còn đề đạt ra vấn đề đến năm 2020 để sát nhập Việt Nam trở thành lãnh thổ của trung quốc rõ rằng đó là một thủ pháp dùng để tranh thủ sự ủng hộ của bọn phản động trong nước Việt Nam đặc biệt là những tên hành nghề biểu tình nhằm lí gián sự đoàn kết toàn dân.

Đăng nhận xét

Cám ơn đã đọc bài viết!
- Mọi thắc mắc, gợi ý hoặc bình luận xin chia sẻ bên dưới hoặc Gửi thư hay Báo lỗi
- Hãy viết bằng tiếng Việt có dấu để mọi người dễ đọc hơn!
- Chèn link bằng thẻ: <a href="Link" rel="nofollow">Tên</a>
- Tạo chữ <b>đậm</b> <i>Ngiêng</i>
Thank You!