14/11/2014

ĐỂ NỢ CÔNG VIỆT NAM AN TOÀN

Tác giả: Unknown viết lúc 14/11/2014 | 14.11.14

Mõ Làng
Diễn đàn Quốc Hội và cả dư luận đang nóng lên về nợ công. Ma trận con số làm người ta không hiểu thực hư nợ công như thế nào, đến mức nào, an toàn không. Tuy nhiên, có những nguyên tắc mà nếu các nhà quản lý phải tôn trọng nó thì mới đảm bảo an toàn cho nợ công.


Để nợ công an toàn, tránh lặp lại những bài học đắt giá từ cuộc khủng hoảnh nợ công đang đè nặng ngay cả nhiều nước phát trien nhất trên thế giới, Việt Nam cần chú ý những nguyên tắc sau:

Thứ nhất, chủ động tự cảnh báo về các nguy cơ

Thực tế cho thấy, chiếc bẫy nợ công diễn biến nhanh và nặng nề hơn sự tính toán chú quan cùa bất kỳ chính phủ và quốc gia, tổ chức quốc tế nào, thậm chí dễ vượt qua sự định liệu và quán lý của cả chú nợ và con nợ. Hơn nữa, thực tế cũng cho thấy, ngăn chặn và phòng ngừa nợ công gia tăng từ đầu sẽ rẻ và dễ hơn khi đế bùng no quả bom nợ công.

Vì vậy, dù tự tin và thận trọng, muốn hay không thì cũng phải rung chuông tự cảnh báo rằng mức nợ công, nhất là nợ nước ngoài của Việt Nam đã tiếp cận giới hạn chịu đựng của nền kinh tế so với khả năng trả nợ, vì rõ ràng đã ở ngay sát mức cảnh báo an toàn của WB; vấn đề càng nhạy cảm hơn trong bối cảnh khủng hoảng nợ công đang bao phủ toàn cầu và đe dọa nhấn chìm nền kinh tế thế giới vào vòng xoáy khủng hoảng tồi tệ mới vô tiền khoáng hậu... Neu khủng hoảng nợ công xảy ra, Việt Nam sẽ phải “một mình vượt cạn”, khó trông cậy vào sự cứu trợ “giá rẻ” hay vô tư nào từ các chủ nợ, các khối kinh tế hay tổ chức tài chính khu vực và quốc tế như trường hợp của EU hiện tại.

Thực tế đòi hỏi Luật Đầu tư công và Luật về Nợ nước ngoài sớm được ban hành và thực hiện nghiêm túc, cũng như cần một chương trình tồng thể dài hạn để giảm nợ công; tập trung hoàn thiện thể chế chính sách và công cụ quản lý nợ phù hợp với thông lệ quốc tế; phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan thực hiện công tác giám sát nợ; kiểm soát chặt chẽ việc cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ; chú động các phương án xử lý rúi ro nợ công; ban hành tiêu chí đánh giá, xếp hạng về khả năng trả nợ của người vay lại, người được bảo lãnh và chủ động trích lập, bố trí nguồn dự phòng; đẩy mạnh phát triển thị trường trái phiếu trong nước; chú trọng công tác quản lý nợ chính quyền địa phương; tăng cường hợp tác quốc tế trong áp dụng các chuấn mức quản lý nợ công và tăng cường thông tin đối ngoại về nợ công của Việt Nam...

Thứ hai, tiếp tục khai thác các nguồn vốn ưu đãi quốc tế để tăng nguồn vốn rẻ và an toàn.

Trong xu thế cần tiếp tục gia tăng trần nợ công, trước mắt, cần tiếp tục khai thác các nguồn vốn ưu đãi quốc tế đế tăng nguồn vốn rẻ và an toàn cho Việt Nam.

Nợ nước ngoài của Việt Nam đang có xu hướng giám và nợ trong nước tăng, đây là xu hướng tốt để Việt Nam giảm được sự phụ thuộc vào nước ngoài, chủ động hơn trong việc vay nợ. Hiện nay, tình hình nợ công được cập nhật 3-6 tháng/lần trên các bản tin quản lý nợ. Bộ Tài chính đã thành lập Cục Quản lý nợ và tài chính đối ngoại, giúp cho việc quản lý tập trung thống nhất vấn đề về nợ công; đồng thời đang chủ trì xây dựng đề án xếp hạng tín nhiệm quốc gia để nâng mức xếp hạng tín nhiệm đảm bảo cho việc vay nợ của Chính phủ cũng như các doanh nehiệp trong thời gian tới một cách tống thể nhất.

Thứ ba, cần phát triển thị trường mua - bán nợ công

Trong thời gian tới, cần phát triển thị trường mua - bán nợ công có sự tham gia một số công ty mua bán nợ của Nhà nước và một số tổ chức kinh tế ngoài Nhà nước. Trước mắt, cần đảm bảo hành lang pháp lý đầy đủ và thông thoáng cho hoạt động của DATC-Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp thuộc Bộ Tài chính (sửa đối Thông tư 39/2004/TT-BTC và Thông tư 38/2006/TT-BTC có liên quan đến nội dung này),

nâng cao tính chủ động trong hoạt động kinh doanh của DATC, đồng thời vẫn bảo đảm sự giám sát của chủ sở hữu. DATC cần mở rộng phạm vi hoạt động xử lý nợ đúng với tầm vóc của công ty xử lý nợ 

quốc gia và cần đảm bảo lợi ích của công ty khi phải thực hiện nhiệm vụ công ích, mua bán nợ theo chỉ định...

Thứ tư, đổi mới mô hình tăng trưởng, tăng cường quản lý NSNN và nâng cao hiệu quả đầu tư công

Việt Nam cần đổi mới và nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, cơ chế phân cấp ngân sách, phân cấp đầu tư theo hướng tôn trọng tính năng động, trách nhiệm và sáng tạo trong sự phát triên của địa phương và sự phát triển tổng thể nền kinh tế, tăng cường hơn vai trò tổng cân đối chung của Chính phủ. Đồng thời, cùng với việc giám thu, giảm chi, tái cơ cấu thu chi ngân sách theo hướng giảm bớt chức năng “nhà nước kinh doanh”, tăng cường chức năng “nhà nước phúc lợi”, giám quy mô đầu tư và tỷ trọng đầu tư công, chuyển mạnh từ mô hình tăng trưởng “nóng”, dựa chủ yếu vào tăng vốn đầu tư và gia công sản xuất kiểu cũ sang mô hình phát triển theo chiều sâu, gắn tái cấu trúc nền kinh tế với tái cấu trúc và nâng cao kỷ luật tài khóa, nâng cao hiệu quả đầu tư công...

Trước mắt, cần thực hiện tốt Chí thị sổ 1792/CT-TTg của Thu tướng Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phú. Theo đó, việc xây dựng các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ phải bám sát mục tiêu và định hướng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011 -2020; Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 của cả nước và của các ngành, các địa phương; từng bước điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo hướng giảm dần đầu tư công; tăng cường các biện pháp huy động các nguồn vốn của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước để đầu tư vào các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội có khả năng thu hồi vốn. Trong khi chưa sửa đổi phân cấp quản lý đầu tư, các bộ, ngành, địa phương phải tuân thủ đúng quy chế hiện hành về quyền quyết định phê duyệt dự án đầu tư (kể cả dự án mới và dự án điều chỉnh quyết định đầu tư). Các cấp có thẩm quyền chịu trách nhiệm kiểm soát chặt chẽ phạm vi, quy mô của từng dự án đầu tư theo đúng mục tiêu, lĩnh vực, chương trình đã phê duyệt, chỉ được quyết định đầu tư khi đã xác định rõ nguồn vốn và khả năng cân đối vốn ở từng cấp ngân sách. Những dự án được quyết định đầu tư mà không xác định rõ nguồn vốn, mức vốn thuộc ngân sách nhà nước, vốn trái phiếu Chính phủ, làm cho dự án thi công phải kéo dài, gây lãng phí thì người ký quyết định phải chịu trách nhiệm về những tổn thất do việc kéo dài gây ra. Đặc biệt, từ năm 2012, tất cả các dự án đã được quyết định đầu tư phải thực hiện theo mức vốn kế hoạch được giao để không gây nên nợ đọng xây dựng cơ bản. Việc bố trí vốn từ ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ phải được lập theo kế hoạch đầu tư 5 năm, phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và được phân ra kế hoạch đầu tư từng năm.

Trong giai đoạn 5 năm 2011 - 2015, việc bố trí vốn trái phiếu Chính phủ thực hiện nghiêm túc chủ trương không bổ sung thêm dự án mới và theo thứ tự ưu tiên: Tập trung bố trí vốn cho các dir án đã hoàn thành và đã bàn giao, đưa vào sử dụng trước ngàv 31/12/2011, nhưng chưa bố trí đủ vốn; ưu tiên bố trí vốn cho các dự án cần phải hoàn thành năm 2012; nếu còn nguồn vốn sẽ xem xét bố trí cho các dự án có khả năng hoàn thành năm 2013. Theo Nghị quyết về Dự toán ngân sách nhà nước năm 2014, Quốc hội nhất trí quyết tone số thu cân đối ngân sách nhà nước là 782.700 tỷ đồng; tổng số chi cân đối ngân sách nhà nước là 1.006.700 tỷ đồng; mức bội chi ngân sách nhà nước là 224.000 tỷ đồng, tương đương 5,3% GDP. Đe đảm bảo thực hiện Dự toán này, Quốc hội đề nghị Chính phủ tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ, cơ cấu lại thu, chi ngân sách, phối hợp đồng bộ với chính sách tiền tệ đe duy trì ổn định kinh tế vĩ mô. Bội chi ngân sách chủ yếu được sử dụng cho đầu tư phát triển và dành một phần để trả nợ. Quốc hội cũng yêu cầu Chính phủ triệt để tiết kiệm chi cho bộ máy quản lý nhà nước và sự nghiệp công; thực hiện tinh giản biên chế gắn với cơ chế khoán chi và bố trí kinh phí theo hiệu quả công việc; cắt, giảm tối đa kinh phí tổ chức hội nghị, hội thảo, chi công tác nước ngoài, chi cho hoạt động lễ hội, lễ kỷ niệm, khởi công, khánh thành, tổng kết và các khoản chi chưa cần thiết khác, không mua xe công (trừ xe chuyên dùng theo quy định của pháp luật); quản lý chặt chẽ để hạn chế tối đa chi chuyển nguồn. Đặc biệt, theo yêu cầu cúa Quốc hội, Chính phủ cần thu vào ngân sách nhà nước 75% số tiền lãi dầu khí, nước chủ nhà được chia và tiền đọc tài liệu phát sinh trong năm 2014; số tiền còn lại (25%) để lại cho Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đầu tư theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Thực hiện thu ngân sách nhà nước đối với cổ tức được chia năm 2014 cho phần vốn nhà nước của các công ty cổ phần có vốn góp của nhà nước do bộ, ngành, địa phương đại diện chủ sở hữu và phần lợi nhuận còn lại sau khi trích nộp các quỹ theo quy định của pháp luật của các Tập đoàn, Tống công ty Nhà nước sỡ hữu 100% vốn điều lệ

3 nhận xét

22:52 16 tháng 11, 2014 Reply

Cũng đã biết là Vn đẩy mạnh thị trường mua bán nợ công, trái phiếu của VN trên thị trường quốc tế cũng được đánh giá cao và được cho là có triển vọng nhất trong khu vực. Nhưng mà vẫn lo ngại lắm mấy câu đại khái như " Mọi chuyện đang nằm trong tầm kiểm soát được..". Như thế, phải thường trực cảnh báo về các nguy cơ.

23:04 16 tháng 11, 2014 Reply

Tôi cũng chả hiểu lắm về vấn đề kinh tế này lắm, nhưng thực sự thì rất là sợ. Nói Vn đi vay tín dụng thấp nhờ nhiều nguồn hỗ trợ nhưng mà vay chỗ này đắp chỗ kia thật sự thì xoay được trong tương lai gần, nhưng xa hơn thì sao? Trong khi thế giới nợ công rồi loạn lạc đủ các kiểu

08:43 4 tháng 12, 2014 Reply

Sợ nhất câu "tất cả đều trong tầm kiểm soát được...." rồi lại "không nghĩ là mọi việc đã đi quá xa so với dự kiến ban đầu"...ặc....Các nhà hoạch định kinh tế cần có chiến lược đúng đắn, khoa học, thông minh và chinh xác, tránh để các đối tác nước ngoài lợi dụng, gây ảnh hưởng tới kinh tế chính trị quốc gia

Đăng nhận xét

Cám ơn đã đọc bài viết!
- Mọi thắc mắc, gợi ý hoặc bình luận xin chia sẻ bên dưới hoặc Gửi thư hay Báo lỗi
- Hãy viết bằng tiếng Việt có dấu để mọi người dễ đọc hơn!
- Chèn link bằng thẻ: <a href="Link" rel="nofollow">Tên</a>
- Tạo chữ <b>đậm</b> <i>Ngiêng</i>
Thank You!