11/11/2014

QUYỀN CON NGƯỜI HAY AN NINH CON NGƯỜI

Tác giả: Unknown viết lúc 11/11/2014 | 11.11.14

Mõ Làng

Trên diễn đàn Quốc Hội cũng đã có những tranh luận về "Quyền im lặng". Mấy hôm trước, trong bài "Luật sư Ngô Ngọc Trai chẳng hiểu gì về chức năng, nhiệm vụ luật sư" nhân chuyện vị luật sư này ba hoa về "Quyền im lặng" tôi có hẹn sẽ quay lại với chủ đề này. Song để khai mở về nó, chúng ta nên đi từ khái niệm về "Quyền con người và an ninh con người". Đây là hai phạm trù không đồng nhất về nội dung, nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Về mặt lý luận, khái niệm an ninh con người còn khá mới mẻ, chưa được nghiên cứu và ít được đề cập trên các diễn đàn khoa học ở nước ta. Mong rằng, qua những vấn đề sau để xác định "Quyền im lặng" nằm trong nội hàm "Quyền con người" hay "An ninh con người" 

Khái lược về quyền con người và an ninh con người

Về "Quyền con người" thì đã có quá nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu về nó đã được đăng tải, để khỏi làm mất thời gian của các bạn tôi xin đi vào vấn đề nhận thức mới về "An ninh con người".

An ninh con người đã xuất hiện như là một kết quả tất yếu do có những thay đổi căn bản trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của thế giới ngày nay, khi mà sự phụ thuộc giữa các nước với nhau gia tăng. Toàn cầu hóa đã làm thay đổi mô hình, chuẩn mực về thể chế chính trị, thể chế kinh tế. Sự nảy sinh xung đột dân tộc và các cuộc khủng hoảng, gia tăng thảm hoạ thiên nhiên, dịch bệnh đang đe doạ trực tiếp đời sống của mỗi cá nhân, của quốc gia, khu vực thậm chí toàn cầu. Vì thế, nhiều học giả quốc tế đã bàn đến khái niệm “an ninh con người” và cho đó như là sự khám phá mới về mối quan hệ giữa “an ninh”“phát triển”.

Từ ngày kết thúc Chiến tranh lạnh, các mối đe doạ chiến tranh thế giới và các cuộc chiến tranh xuyên quốc gia có vẻ giảm bớt, nhưng các cuộc chiến tranh trong phạm vi quốc gia lại có chiều hướng gia tăng. Chính điều này, đã đặt ra thách thức đối với khái niệm an ninh truyền thống, mà trung tâm của nó là duy trì chủ quyền và an ninh quốc gia, sự toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị. 

Cộng đồng quốc tế, dường như có sự hoài nghi về khái niệm an ninh truyền thống sau Chiến tranh lạnh khi ngày càng gia tăng các vấn đề như nghèo đói, sự không bình đẳng giữa giàu và nghèo, sự xuống cấp của môi trường, sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, tỵ nạn quốc tế, buôn bán người, xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo…Vì vậy, cộng đồng quốc tế đã phát triển một khái niệm mới nhằm bù đắp vào sự thiếu hụt của khái niệm an ninh truyền thống, đấy là “an ninh phi truyền thống”. Báo cáo Phát triển con người năm 1994 của Liên hợp quốc đã đánh dấu một chương mới cho sự cần thiết để thúc đẩy khái niệm về “an ninh con người”.

Như vậy, khái niệm “an ninh con người” chính thức xuất hiện vào những năm 90 của thế kỷ 20, mặc dù nếu xét về mặt nội hàm khái niệm thì đã có sự tranh luận từ lâu. An ninh con người, phản ánh rõ sự chuyển hướng về khái niệm an ninh, như một loạt các câu hỏi được đặt ra “an ninh là gì”, “an ninh cho ai”. Các học giả quốc tế đã chính thức phân chia an ninh thành hai loại. Đó là an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống.

An ninh truyền thống nhấn mạnh an ninh chính trị và quân sự của quốc gia. Khái niệm này dùng trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, khi mà các quốc gia phải đương đầu với những thách thức như chiến tranh huỷ diệt. Nó giả sử rằng các quốc gia chỉ là mục tiêu của vấn đề an ninh, nguồn gốc duy nhất của đe doạ quân sự là từ các khối thù địch. Giá trị cơ bản của an ninh là bảo đảm sự sống còn của quốc gia và toàn vẹn về lãnh thổ, chủ quyền. Cách tiếp cận để đảm bảo an ninh chính là liên minh chính trị của các quốc gia.

Khái niệm an ninh phi truyền thống không dừng lại ở an ninh chính trị mà mở rộng phạm vi sang cả lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường, sức khoẻ, quyền con người. Giá trị cơ bản của khái niệm an ninh quốc gia mở rộng từ giá trị bảo vệ lãnh thổ quốc gia và chủ quyền sang các giá trị sống còn của hệ thống chính trị, truyền thống xã hội, sự hài hoà và ổn định của các quan hệ dân tộc, duy trì và toàn vẹn văn hoá, sự thịnh vượng kinh tế và phát triển, công bằng và công lý. Những mối đe doạ những giá trị này, không chỉ từ đe doạ quân sự bên ngoài và sự lật đổ chính trị, mà còn từ sự bất bình đẳng về kinh tế hay sự tan rã, xuống cấp của môi trường, đạo đức xã hội, gia tăng dịch bệnh...

An ninh con người là một kiểu an ninh phi truyền thống. Về bản chất, là xem xét lại và suy tính lại trên phạm vi quốc tế về khái niệm an ninh trong các thập kỷ gần đây được bao hàm trong một khái niệm an ninh hoàn toàn mới. 

Sau này, Ủy ban An ninh con người của Liên hợp quốc định nghĩa an ninh con người là phải bảo vệ các giá trị cơ bản quan trọng nhất trong cuộc sống của tất cả mọi người theo hướng tăng cường khả năng tự do lựa chọn và hưởng thụ của con người, nghĩa là bảo vệ con người khỏi những mối đe dọa và tình huống nguy hiểm hiện hữu ở khắp mọi nơi. Cựu Tổng Thư ký Liên hợp quốc, ông Kô-phi An-nan đã từng nhấn mạnh an ninh con người không tách rời hòa bình, an ninh và phát triển. Nó không chỉ đơn giản là tình trạng không có xung đột bạo lực, mà còn bao gồm nhân quyền, quản lý nhà nước tốt, cơ hội tiếp cận giáo dục và chăm sóc sức khỏe và bảo đảm mỗi cá nhân có cơ hội và sự lựa chọn để phát huy được năng lực của mình.

An ninh con người có nội hàm khá rộng, theo Báo cáo Phát triển của Liên hợp quốc thì nó trải trên nhiều lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá… của mỗi quốc gia, khu vực và toàn cầu. Đó là các vấn đề về việc làm, sức khoẻ, môi trường, thực phẩm, an toàn, cộng đồng, chính trị, nhân quyền, giáo dục, tôn giáo, dân tộc, sắc tộc…

Trong Báo cáo phát triển của UNDP năm 1994, đã có sự miêu tả chi tiết: “Nó có nghĩa là an toàn thoát khỏi các mối đe doạ về đói nghèo, bệnh tật, tội phạm, sự đàn áp. Nó cũng có nghĩa bảo vệ khỏi sự đổ vỡ có hại và bất ngờ trong mẫu hình của đời sống hàng ngày tại gia đình, công việc, trong cộng đồng hay trong môi trường của chúng ta”..

An ninh con người có bốn đặc điểm: Thứ nhất, đó là tính phổ biến. Các dân tộc dù mạnh hay yếu, giàu hay nghèo, tất cả đều chịu tác động của an ninh con người. Mặc dù có sự khác nhau về các mối de dọa đến an ninh con người tại khu vực này hay khu vực khác, nhưng nhìn chung, chúng là thực sự và đang gia tăng. 

Thứ hai, có sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành phần của an ninh con người. Khi con người - là một góc nhỏ của thế giới - bị đe doạ, thì phần còn lại của thế giới cũng sẽ có sự dính líu, dù đó là đói nghèo, bệnh tật, buôn bán ma tuý, xung đột dân tộc và rối loạn xã hội…Tất cả các thành phần của an ninh con người luôn phụ thuộc vào nhau, không thể tách rời, cũng không giới hạn đó là công việc nội bộ của một nước. 

Thứ ba, ngăn ngừa sớm, tốt hơn là ngăn ngừa muộn. Chẳng hạn ngăn ngừa sớm là hiệu quả hơn đối với HIV/AIDS. 

Thứ tư, đó là con người là trung tâm của an ninh con người. An ninh con người là con người sống và thở trong một xã hội như thế nào và họ có thể được lựa chọn một cách tự do như thế nào, cơ hội của họ giành được thị trường và xã hội lớn như thế nào, và liệu họ sống trong xung đột hay hoà bình.

Bảy phạm trù về an ninh con người. Đó là: an ninh kinh tế (bảo đảm việc làm và thu nhập); an ninh lương thực (không bị thiếu ăn); an ninh sức khoẻ (không bị dịch bệnh); an ninh môi trường (không bị ô nhiễm về không khí, nguồn nước…), an ninh cá nhân (không bị đe doạ bắt bớ giam cầm..), an ninh cộng đồng (duy trì bản sắc văn hoá, đặc trưng dân tộc) và an ninh chính trị (bảo đảm quyền tự do cơ bản của con người về dân sự, chính trị).

Như vậy, khái niệm an ninh con người là một khái niệm hoàn toàn mới, nó có ý nghĩa thực tiễn và lý luận sâu sắc. Nhìn chung, sự đóng góp cơ bản của khái niệm này, chính là xem xét lại khái niệm an ninh truyền thống. 

Mối quan hệ giữa an ninh con người và quyền con người

Khái niệm quyền con người có một quan hệ không thể tách rời với khái niệm an ninh con người. Tất nhiên, an ninh con người và quyền con người không phải là một, mà nó cũng không hoàn toàn là khái niệm trùng lắp, giữa chúng có sự khác nhau, nhưng không tách rời nhau.

Nếu như khái niệm quyền con người, là chỉ các quyền tự do cá nhân, mà mỗi con người đều có quyền được thụ hưởng, chứ không phải vì họ là công dân của một nhà nước. Như vậy, xét về mặt bản chất tự nhiên, quyền con người không phải là thứ ban phát của Nhà nước. Khái niệm nhân quyền đã phản ánh mối quan hệ hai chiều giữa Nhà nước và cá nhân, công dân, theo đó một bên chủ thể có quyền (cá nhân, công dân) và bên kia, chủ thể mang nghĩa vụ đảm bảo (Nhà nước). Mối quan hệ trách nhiệm giữa cá nhân và Nhà nước được quy định rất rõ trong luật nhân quyền quốc tế, đó là ràng buộc trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà nước là phải tôn trọng, bảo vệ và thực hiện các quyền và tự do của cá nhân.

Hiến chương Liên hiệp quốc và Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 được xem là văn kiện quốc tế khởi đầu cho những ý tưởng về an ninh chung. Tuyên ngôn thế giới về quyền con người đã liệt kê một loạt các quyền con người cơ bản, như quyền sống, không bị phân biệt đối xử, không bị tra tấn, nhục hình, quyền lao động, quyền giáo dục, các quyền tự do ngôn luận, tư tưởng, báo chí, hội họp hoà bình, đi lại, cư trú… Chính những quyền này là nội dung cơ bản cấu thành nội hàm của khái niệm “an ninh con người” như hiện nay.

Trên khía cạnh này, một số học giả quốc tế còn tranh luận rằng, “an ninh con người” thu nạp và được xem là một phần của quyền con người. Chẳng hạn theo Trung tâm nghiên cứu và đào tạo Châu Âu về dân chủ và quyền con người ghi chú trong cuốn Tìm hiểu về nhân quyền tài liệu về giáo dục nhân quyền cho rằng, nhân quyền hàm ý an ninh con người, vì các quyền tự do và an ninh cá nhân được quy định trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (Điều 3); và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá (Điều 9) có nghĩa rằng đã giải thích khá rõ hàm ý về tự do không bị sợ hãi và các quyền an ninh xã hội và mối liên hệ của nó với các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá được quy định trong Tuyên ngôn nhân quyền (Điều 22) và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá (Điều 9) có nghĩa là tự do thoát khỏi đói nghèo.

Các quy định có liên quan còn được quy định trong Công ước Châu Âu về nhân quyền (Điều 5); Công ước Châu Mỹ về nhân quyền (Điều 7); Hiến chương Châu Phi về nhân quyền và quyền của các dân tộc (Điều 6) đều liên quan đến bảo đảm an ninh cá nhân và yêu cầu các quốc gia không được can thiệp một cách vô cớ đến sự toàn vẹn cá nhân. Như vậy, nghĩa rộng của an ninh con người có thể hiểu thông qua các giá trị của quyền con người. Mặt khác, các ý tưởng về bảo vệ quyền con người trong xã hội quốc tế ngày nay cũng phản ánh trực tiếp đến “an ninh con người” và nhấn mạnh các quyền dân sự, chính trị của cá nhân. Và vì thế nội hàm của khái niệm an ninh con người gồm cả an ninh chính trị và an ninh cá nhân.

Trên một khía cạnh khác, mối quan hệ giữa quyền con người và an ninh con người, trong đó con người có quyền được bảo đảm có một trật tự xã hội và quốc tế, các quyền và tự do của con người phải được tôn trọng và bảo vệ, dẫn tới xuất hiện bảo đảm và cân bằng giữa các yếu tố an ninh: an ninh cá nhân, an ninh quốc gia và an ninh quốc tế. Thúc đẩy, bảo vệ quyền con người chính là cách nhằm đạt được các phạm trù an ninh đó.

Như vậy, an ninh con người đặt con người làm trung tâm, coi tôn trọng và bảo vệ quyền tự do về chính trị, dân sự, sự thịnh vượng của cá nhân là nền tảng của an ninh. Mục tiêu chính của quan niệm an ninh con người chính là lấy tôn trọng quyền con người và tự do của cá nhân là xuất phát điểm. Và như vậy, xét về mặt bản chất, an ninh con người là tôn trọng và bảo vệ quyền con người.

Báo cáo của Uỷ ban An ninh con người16 năm 2003 với tiêu đề An ninh con người hiện nay đã nhìn an ninh con người và quyền con người như là sự bổ sung cho nhau: “Quyền con người và an ninh con người củng cố lẫn nhau. An ninh con người giúp xác định các quyền trong một tình huống cụ thể. Và các quyền con người giúp trả lời câu hỏi: An ninh con người nên được thúc đẩy như thế nào? Ý tưởng nghĩa vụ, trách nhiệm, bổ sung việc công nhận tầm quan trọng về chính trị và đạo đức của an ninh con người”.

Báo cáo của Uỷ ban An ninh con người xác định mục đích của an ninh con người là bảo vệ cuộc sống của tất cả các cá nhân theo cách đề cao các tự do và thực hiện nhân quyền. Báo cáo cũng chỉ ra rằng, an ninh của con người trong tình trạng mạo hiểm bao gồm các mối đe doạ và các điều kiện mà nó luôn không được phân loại như an ninh quốc gia. An ninh con người cũng quan tâm tới sự tước đoạt: khỏi sự kiệt quệ cùng cực, ô nhiễm môi trường, bệnh tật, ốm đau, mù chữ và các bệnh khác. An ninh con người có nghĩa, bảo vệ các tự do cơ bản - tự do là thiết yếu của cuộc sống con người.

Như vậy, nghiên cứu, xem xét trong tổng thể các mối quan hệ giữa an ninh con người và quyền con người cho thấy, giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Khái niệm an ninh con người đã cho chúng ta một cách tiếp cận mới về an ninh nói chung, trong đó được xem là một thách thức với khái niệm an ninh truyền thống chỉ coi quốc gia, dân tộc và chính quyền nhà nước là chủ thể chính, đóng vai trò trung tâm trong chính sách bảo đảm an ninh quốc gia và ưu tiên của vấn đề an ninh.

Tuy vậy, sự xuất hiện khái niệm an ninh con người, không phải không gây tranh cãi và còn có cách hiểu và tiếp cận, lĩnh hội khác nhau trên phạm vi thế giới, khu vực và quốc gia. Trong khu vực ASEAN, ban đầu hầu hết các nước tiếp cận khái niệm này với thái độ khá thận trọng và nghi ngờ vì đa phần các nước đều trải qua một thời gian dài bị các quốc gia thực dân, đế quốc chiếm đóng nên hầu hết xếp trật tự an ninh quốc gia là trung tâm, và nhấn mạnh đến chủ quyền và phản đối sự can thiệp vào công việc nội bộ. Việt Nam cũng nằm trong bối cảnh chung đó.

Dù còn có cách nhìn và cách hiểu cũng như sự tiếp nhận khác nhau giữa các nước, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu trên cả phương diện lý luận và thực tiễn về khái niệm an ninh con người, nhưng nhìn chung, sự phát triển về khái niệm - dựa trên những thay đổi hiện thực của đời sống chính trị, xã hội, kinh tế, nhất là các hiểm hoạ toàn cầu không loại trừ bất kỳ một châu lục, một quốc gia, dân tộc nào - thì cần phải tiếp tục nghiên cứu và tiếp thu có chọn lọc. Và mục tiêu của nhân loại cần hướng tới nhất định vẫn phải lấy tiêu chí là an ninh con người, dựa trên nền tảng bảo vệ quyền, tự do và các giá trị của con người. Đó chính là nguyên lý phát triển hiện nay, tất cả vì con người, lấy con người làm trung tâm trong hoạch định chính sách phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia. 

Đăng nhận xét

Cám ơn đã đọc bài viết!
- Mọi thắc mắc, gợi ý hoặc bình luận xin chia sẻ bên dưới hoặc Gửi thư hay Báo lỗi
- Hãy viết bằng tiếng Việt có dấu để mọi người dễ đọc hơn!
- Chèn link bằng thẻ: <a href="Link" rel="nofollow">Tên</a>
- Tạo chữ <b>đậm</b> <i>Ngiêng</i>
Thank You!