31/12/2014

BẢY ĐIỀU CƠ BẢN VỀ KINH TẾ ĐÁ PHIẾN SÉT CHỨA DẦU

Tác giả: Unknown viết lúc 31/12/2014 | 31.12.14

Huy Văn Phúc
Bảy điều sơ lược về kinh tế đá phiến sét chứa dầu và dầu: đá phiến sét chứa dầu là gì, tại sao giá dầu tăng giảm, tại sao kinh tế tây lông nhạy cảm với giá dầu, sự thật là Mỹ khai thác những cái gì?


Mới nghe đã thấy Mỹ phát minh ra khoan ngang, Mỹ phát minh ra khai thác đá phiến sét.

Đá phiến sét đã được khai thác từ thượng cổ, và Liên Xô đã hoàn thiện khoan tuốc bin từ những năm 30 của thế kỷ 20. Toàn bộ các giàn khoan của Mỹ lệ thuộc vào Nga, nhưng xây dựng nên mớ lý thuyết nhồi sọ lợn.

Ngày hôm nay, tỷ giá đồng rub mất làm toàn bộ chứng khoán Tây Lông chết, Nga kéo rub lên là kéo chứng khoán cho cả Tây Lông. Nếu Nga và Saudi giữ mức giá dầu dưới giá thành khai thác dầu đá phiến (chiếm khoảng 1/3 số dầu Mỹ),thì sẽ phang chết toàn bộ khí đá phiến sét của Obama.

Về khí đá phiến sét em đã nói nhiều rồi. 

Một là, về nguyên tắc, đang có chiến dịch nhồi sọ rằng Mỹ có siêu công nghệ khí đá phiến sét, khai dầu rẻ như bèo, nên đập chết ăn thịt Nga. Đây là trò chó má nhất của những bộ óc đậu phụ của nhà nước thực hiện trên các VTV, VOV. Đá phiến sét chứa dầu cũng là mỏ dầu, nhưng là loại dầu cằn. Dầu này không tự chảy vào giếng khoan để bơm lên, mà nó thấm vào đá rắn. Chúng ta có thể hiểu, đá phiến sét chứa dầu khi cầm lên trong điều kiện mỏ (150-300 độ C), thì nó không chảy tí dầu-khí nào ra. Còn mỏ dầu thường thì dầu thấm trong đá tự chảy vào giếng thậm chí là tự phun lên trên miệng giếng.

Mỏ dầu thường là những cái bẫy hydrocarbon, chúng có dạng cái bát úp, được phủ bên trên bởi những lớp đất đá kín không thấm như sét. Hydrocarbon nhẹ hơn nước ngầm, nổi lên trên, sẽ tích tụ trong những bẫy bát úp đó. Hydrocarbon hình thành bằng nhiều nguồn: xác sinh vật cổ bị phân hủy; methan đóng băng trên đáy biển bị chôn vùi - cũng từ sinh vật; nước ngầm phản ứng với các khoáng chất ở nhiệt độ cao trong lòng đất... Mỏ dầu vì thế xuất hiện nhiều ở những vùng đất mà các dãy núi nổi lên chèn vỏ lục địa cong vênh như ven Kavkaz, hay các mảng kiến tạo đâm nhau cũng cong vênh, như châu Phi đâm vào châu Á ở Trung Đông, hay thềm lục địa nơi đáy biển cuộn vào bờ.... 

Bởi vì, không phải nơi nào cũng là cái đỉnh bát úp, nên các bẫy dầu này không có nhiều, mà chủ yếu trữ lượng dầu nằm trong đá phiến sét được mô tả dưới đây.

Còn các mỏ hắc ín và đá phiến sét chứa dầu thì không có dạng bẫy đó, mà chỉ là đá xốp, dầu thấm vào trong. Có nhiều loại sét rất xốp như sét tảo cát, hình thành từ vỏ silic của các vi tảo có dạng những cái lồng nhỏ li ti, xốp 70-90 %, trước đây Nobel dùng để thấm chất nổ lỏng thành chất nổ dẻo. Vì thế, ven Baltik, Ladoga, Hắc Hải, ở vĩ độ của sét tảo cát,.... là bạt ngàn các vỉa đá phiến sét chứa dầu.

Hiện nay dầu lỏng còn rất nhiều nên con người chưa phải ăn đến cái cằn đó. Việc khai thác chúng ngày nay là phi lý.

Giá thành khai thác đá phiến sét rẻ nhất do Nga-Trung đạt được là dầu lỏng $30 / thùng. Trong khi đó, giá thành dầu của Nga và Saudi dưới $20. Nga-Trung dùng dầu cặn mà họ đã trữ được rất lớn trộn với chất xúc tác, nung nóng, bơm xuống các vỉa đá phiến sét chứa dầu được khoan các giếng với mật độ rất dầy. Dầu áp lực cao sẽ phá hủy cấu tạo vỉa đá và thấm qua đá xốp. Khi đó, cả mỏ dầu như bị nung nóng lên trong nồi áp suất, dầu rắn bị racking và hòa tan vào dầu cặn lỏng, chảy vào các giếng rồi được hút lên.

Cách khai thác của Mỹ gần giống nguyên lý trên nhưng thực chất lạc hậu không áp dụng được. Mỹ bơm nước nóng cùng chất xúc tác là muối sắt xuống mỏ, cũng nung nóng cả mỏ lên 200-300 độ C (bình thường do địa nhiệt, mỏ cũng đã nóng 150-300 độ C nên hầu hết các mỏ chỉ cần bơm nước nóng xuống). Cách này chỉ có thể lấy được dầu-khí sau khi nó cracking thành các phân tử nhẹ hơn ở dạng lỏng và khí ở điều kiện mỏ, chảy ra khỏi đá, thấm vào các giếng.

Ở cả hai cách, chỉ khác nhau là Nga dùng dầu cặn, Mỹ dùng nước. Điểm giống nhau là khoan 2 lưới giếng mật độ cao, một bên áp cao nén xuống và một bên áp thấp hút nước-dầu-khí lên. Cách của Mỹ không hòa tan được nhiều, tỷ lệ thu được ít, do chỉ mót được các phân tử đã cracking, vì thế giá thành rất cao.

Điều thứ 2, Mỹ hầu như không khai thác khí đá phiến sét như họ nói, mà họ gọi dầu thường là khí đá phiến sét để nhồi sọ truyền thông qua các đại lý cung cấp dịch vụ thực dân thông tin.

Bằng chứng là, lượng phân phối - tiêu thụ sản phẩm khí của Mỹ rất thấp, chỉ bằng lượng khí methan Mỹ hút trong các mỏ than. Trong khi đó, khai thác bằng kỹ thuật craking như Mỹ , thì hơn một nửa sản phẩm là khí có nhiều thành phần chưa no, bán rất được giá. 
(năm Mỹ xơi 6,920,812 khoảng 1 tỷ tấn nhưng chỉ có 910,839 khí các loại, lượng khí này cũng chỉ bằng lượng khí methane chính Mỹ khai thác trong các mỏ than)

Như vậy, Mỹ thậm chí còn chưa có kỹ thuật thu hồi đáng kể lượng khí đồng hành dầu, đừng nói là các thứ khí đắt như khí đá phiến sét. Khí đồng hành dầu là do dầu lỏng ở trong mỏ dầu thường bị nén ở áp suất cao (300-400 atm), nên hòa tan rất nhiều khí. Có nhiều mỏ khí còn nhiều hơn cả dầu lỏng (ở điều kiện thường). Khai thác khí đi sau, như là mỏ Bạch Hổ, ban đầu người ta đốt bỏ khí đồng hành ở giàn xử lý sơ chế, sau khi có tiền khá khá và thời gian mới thi công đường ống vận chuyển khí hóa lỏng vào bờ, hoặc cảng chuyên dụng cho các tầu chở khí hóa lỏng ngoài biển.

Việc sơ chế, chứa, vận chuyển.... khí hóa lỏng rất khó khăn và sẽ có giá thành rất cao nếu như dốt. Liên Xô đã đứng đỉnh thế giới, nay Nga vượt xa Liên Xô. Chúng ta chỉ cần xem Luồng Bắc Nord Stream 1500 km ống không cần bơm tăng bo, nén 250 atm bằng tuốc bin. Chỉ riêng những tuốc bin nén khí vào ống của Nga và Liên Xô cũ cũng đã là quái vật kinh hoàng với văn minh Tây Lông. Ở Bạch Hổ, thì đường ống chỉ mấy trăm km, nhưng với sản lượng nhỏ, để làm ống đó có lãi là không đơn giản. Do đó, khí hóa lỏng trên thế giới rất đắt, những giá ở mỏ gần như bằng không. Việc vận chuyển khí hóa lỏng bản thân nó đã là một ngành kinh tế lớn như khoan dầu.

Như thế, chỉ khi Mỹ có lượng khí đáng kể trong phân phối sản phẩm, thì mới là có khí. Nhưng khi họ có cách vận chuyển khí, thì họ sẽ thu hồi số khí đồng hành rất lớn hiện nay họ đang đốt bỏ ngoài biển. Sau đó, nếu như giá thành có cho phép, thì mới dám đầu tư sang khí đá phiến sét.

Điều thứ 3. KHai thác đá phiến sét chứa dầu không hề là điều gì mới.
Trên Đây là sản lượng thế giới 197x, chủ yếu do Xô - Trung khai thác. Chỉ có ngớ ngẩn mới tin nổi Mỹ đẻ ra công nghiệp khai thác khí đá phiến sét.

Chúng ta đã bàn nhiều về mỏ Ukhta, mỏ dầu đầu tiên của châu Âu. Từ đây, những người Nga di cư mới lập ra cái mỏ thứ hai cho châu Âu ở Thụy Sỹ, thuộc Tây Lông, nhưng cái mỏ thụy sỹ đó chỉ là cuốc hắc ín rắn. Mỏ Ukhta ở gần Maxcơva thực chất là một mỏ đá phiến sét gần như lộ thiên, nhiều nơi dầu lỏng chảy ra, được khai thác cả đá và dầu lỏng. Chúng ta đã bàn đến việc Nữ Hoàng Nga con của Piotr trịnh trọng ghi vào sử xanh rằng, năm 1735 bà cấp phép khai dầu Ukhta cho một ông, để chưng dầu hỏa, thắp sáng các thánh đường Chính Thống. Tuy nhiên, đây chỉ là việc tôn giáo trịnh trọng. Cha bà, Piotr Đại Đế đã khai, đã chứa dầu ở đây, để chưng ra rất nhiều thứ dùng cho công nghiệp, từ năm 1696.

WW1, Nikolay Pogrebov bắt đầu tổ chức khai thác thử nghiệm đá phiến chứa dầu từ Estonia chở đến Petrograd (Saint Petersburg ), sau đó nhà máy năng lượng Tallinn là nhà máy đầu tiên trên thế giới đốt đá phiến sét chứa dầu, năm 1924. Ở Nga và Liên Xô, các nhà máy năng lượng là những nhà máy hỗn hợp, vừa cấp điện , vừa cấp nhiệt sưởi.

Từ thời thượng cổ người ta đã làm. Nga là nước đẻ ra nền công nghiệp dầu mỏ cho thế giới, Nga đẻ ra khoan dầu thay cho giếng đào cổ truyền, chưng dầu công nghiệp , đường ống dẫn dầu, tầu chở dầu.... Nga Hoàng cũng đã tổ chức khai thác thử nghiệm đá phiến sét chứa dầu lấy dầu. Nga Hoàng thực hiện bằng xúc đá ninh trong nồi áp suất với hơi nước nóng để múc dầu lỏng chảy ra. Liên Xô cũng đã thực hiện thử nghiệm các loại lò đốt trực tiếp đá phiến sét chứa dầu để phát điện. Các nước khác như Trung Quốc cũng như thế, cổ kim đều có. 

Tuy nhiên, đến nay, thì khai thác đá phién sét chứa dầu có giá thành cao nên người ta vứt đấy. 

Điều thứ 4. Mỹ không khai thác đá phiến sét nên không có chuyện nhảm nhí là siêu kỹ thuật Mỹ.
Thực chất, các cách khai thác khí đá phiến sét bằng cách nung cả vỉa mỏ lên, dù là ở Nga, Mỹ, Arghentina, Trung Quốc.... đều phải sử dụng rất nhiều giếng khoan. Họ phải khoan các giếng khoan đặc sít vào nhau, thành hai lưới giếng, một thông với giếng áp cao bơm xuống, 1 thông với giếng áp thấp bơm lên.

Thế nhưng, Nga độc quyền về khoan khó.

Nga là nước đẻ ra công nghiệp khoan dầu và ngành dầu khí hiện đại cho thế giới trong thế kỷ 19. Và nối tiếp Liên Xô cũng đẻ ra kỹ thuật khoan hiện đại.

Cuối thế kỷ 19, người ta khoan giếng bằng khoan cần quay ROTARY DRILL. Tất cả các giếng đều theo chiều thẳng đứng. Các giếng phải không xa nhau quá, giữ khoảng cách nhất định, mới hút được hết dầu. CHính vì thế, mỏ dầu thế kỷ 19 là cảnh một rừng các giàn khoan. Tây Lông còn các rừng giàn khoan như thế cho đến sau 1991.

Nhưng từ năm 1930, Liên Xô đã phát triển kỹ thuật khoan ngày nay. 

Năm 1930, Liên Xô đã áp dụng đại trà thước đo độ nghiêng của giếng. Nhờ vậy, kiểm soát được độ cong của giếng, khoan cần quay được sâu hơn. Năm 1933-1934, Liên Xô đã dùng thước kiểm soát trên để khoan nghiêng, từ ngoại thành Baku khoan vào gầm thành phố. Cũng những năm đó Liên Xô bán các kỹ thuật này cho Na Uy để từ bờ khoan ra biển. Đây là kỹ thuật khoan định hướng Directional Drilling Technology.

Năm 1941, Liên Xô đã dùng khoan tuốc bin để giữ kỷ lục chiều sâu lỗ khoan cho đến 1991.

Khoan tuốc bin là không truyền động cho mũi khoan bằng cần khoan như cũ, mà bằng chất lỏng áp lực cao, chất lỏng này đẩy tuốc bin làm mũi khoan chạy. Mũi khoan bò trong giếng khoan và được điều khiển hướng bởi các kích thủy lực. Ban đầu, cách khoan này được dùng để khoan các đường hầm kỹ thuật lưới tầu điện ngầm Maxcơva, né qua các công trình nổi.

Khoan tuốc bin là chìa khóa để thực hiện các lỗ khoan gập khúc và rẽ nhánh. (Turbodrills , Турбобур ). Năm 1934, Liên Xô thành lập viện Экспериментальн ая контора турбинного бурения (ЭКТБ ), với các nhà khoa học hàng đầu PP Shumilov RAIoannesyan, MT Guzman và EI Tagiyev .

Bẵng đi bởi chiến tranh,mãi đến năm 1949, Liên Xô đã hoàn chỉnh như ngày nay: khoan nghiêng, khoan rẽ nhánh, khoan cong gấp khúc. Từ đó cảnh rừng giàn khoan được thay thế. Thay vào đó, từ giàn trung tâm, người ta sẽ khoan ngoằn nghèo ngóc ngách vào vỉa dầu với tầm vươn ngang và sâu đến 6 km. Các mũi khoan khoa học thực nghiệm đến 12 km.

MA Kapelyushnikov , SM Volokh và NA Korneev đã nỗ lực thiết kế các khoan tuốc bin đầu tiên năm 1922. Cho đến năm 1933, Liên Xô đã thay dần khoan cần sang khoan tuốc bin. Ở Liên Xô hầu hết là khoan tuốc bin. Còn bên Tây Lông đến năm 1991 hãng Neyrfor mới lần đầu tiên đăng ký một mẫu thiết bị khoan tuốc bin khả thi, nhưng đây là cách mà người Nga xuất khẩu thiết bị sang Mỹ chứ không phải phát minh phát kiến của Mỹ.

Một đỉnh cao nữa của Liên Xô là giàn khoan bán chìm Chirag 1985. Các giàn khoan bán chìm có phần giàn khoan thật sự nằm trên đáy biển, tự động hóa hoàn toàn. Cái phần nổi trên mặt biển chỉ là cỗ máy căn cứ, cung cấp điện-điều khiển-chất lỏng áp lực. Giàn khoan bán chìm cho phép khai thác dầu ngoài biển với độ sâu đáy biển lên đến hàng nghìn mét, mà các giàn khoan chân cắm không thể với đến.

Khoan ngang cũng không phải cái gì mới. Từ lâu, Liên Xô đã áp dụng khoan ngang lớn nhỏ, và bán rộng rãi các máy móc này. Lớn để khoan hầm khoan dầu, nhỏ thì đơn giản như đặt cáp qua đường.

Khoan tuốc bin không chỉ cho phép khoan cong, khoan gập khúc.... mà còn cho phép khoan với tốc độ cao hàng chục đến hàng trăm lần trước. Điểm mấu chốt về tốc độ là phần chuyển động của nó gọn gàng không quá nặng nề, nên tốc độ quay cao, thời gian nối cần không quá dài, cũng như dễ dàng triển khai các thiết bị khác trong giếng, như thành giếng, các máy móc điều khiển.

Ngày nay, Hầu hết các giàn khoan trên thế giới có thành phần Nga. Đặc biệt, Nga chỉ không cung cấp loại khoan cần cổ lỗ cho các mũi khoan nông. Còn tất cả các giếng có khoan cong, khoan gập khúc, khoan rẽ nhánh, đều phải dùng giếng và khoan của Nga. Còn loại giàn khoan bán chìm thì toàn bộ cái lõi giàn khoan là của Nga. Các nước khác mua những cái đó, đem về lắp, và thậm chí là Nga mua lại giàn khoan hoàn chỉnh, để lấy nhân công rẻ tiền và vốn đầu tư. Việt Nam cũng bán giàn khoan cho Nga và nô tì An Nam trực tiếp sang Siberi vận hành các giàn khoan đó.

Từ 199x, Nga đã làm cho Tây Lông sống lại rất nhiều mỏ và khai thác nhiều mỏ mới . Chúng ta có thể hiểu, Nga có nhiều cách để mót các mỏ dầu rất cạn, ví như mỏ Bạch Hổ. Họ khoan đàn đàn lũ lũ lỗ khoan, xoay vòng bơm nước xuống, nước đẩy dầu lên rất chậm thấm qua đá, ở góc khác của mỏ thì xoay vòng bơm dầu lên. Tất cả những cái đó Mỹ gọi là khí đá phiến sét.

Thật ra, ở Mỹ, cũng đã triển khai nhiều phát triển, chỉ có điều là không đi đến thành công. Texon, Texas đã thực hiện khoan ngang từ năm 1929.

Điều thứ 5. Vậy thì, mấy năm qua, Mỹ không khai dầu khí đá phiến, thì Mỹ khai cái gì mà tăng sản 
À, do giá dầu tăng lên trên $70. Như vậy, 1/3 sản lượng dầu của Mỹ nay là lên sau 2010, có giá thành trên $70.

Và như thế hậu quả của việc giá dầu xuống là: nền công nghiệp khai dầu Mỹ chết sặc tiết.

Đây là đồ thị sản lượng dầu Mỹ theo từng tháng, từ sâu trong lịch sử

Đồ thị và số liệu lịch sử giá dầu 

Điều thứ 6. Như vậy, Mỹ có giá thành cao, thì cái gì làm giá dầu giảm?
Thật ra, chỉ có ở Việt Nam người ta mới có đông đảo lợn để nói đến những chuyệnh ngu hơn lợn như Mỹ có siêu kỹ thuật đá phiến sét. Chỉ có loài lợn đã thối sạch sành sanh não mới tin nổi điều đó.

Giá dầu giảm do tòan bộ Tây Lông đã rơi vào khủng hoảng kép "giảm phát". Nhật bắt đầu từ 2013 với tiêu thụ giảm gần 10%. Mỹ nối tiếp, và nay đến châu Âu.

Chính vì các bạn hàng chủ yếu chết sặc nên Nga mới hơi suy thoái 0,9% trong năm 2015. Cùng là BRICS, nhưng Tầu - Ấn và Nga phản ứng khác nhau trước việc Tây Lông khô héo. 

Tầu - Ấn là những nước bán hàng bình dân. Họ vẫn đang nghèo, mức tiêu thụ bình quân trong nước đang thấp. Như thế họ vẫn đang phát triển mạnh mẽ bằng tăng bình quân tiêu thụ, chỉ thay đổi từ xuất khẩu sang Tây Lông quay về tự sướng nội địa.

Ngược với Tầu - Ấn, Nga là nước bán hàng mức sống cao. Họ bán dầu chạy xe hơi , bình dân đi xe máy ăn ít dầu, hay xe bus chạy điện bằng than hay hạt nhân rẻ tiền... Nga bán xương sống của máy bay, khi khủng hoảng thì người ta dừng giao hàng máy bay vốn phục vụ du lịch cao cấp. Nga bán nhiên liệu hạt nhân cho điện hạt nhân. Nga bán xương tủy của giàn khoan và các dự án đường sắt, khi khủng hoảng thì người ta ngừng đầu tư. Nga cũng bán tầu vũ trụ siêu xa xỉ....

Như thế, Nga sẽ suy thoái khi giao mùa, Tây Lông chết mà Tầu - Ấn chưa thay thế được Tây Lông.

Điều thứ 7, tại sao Tây Lông lại tiêu thụ nhiều như thế?
Đó là do bong bóng. Những thành phố của Mỹ là những cái làng cổ truyền siêu khổng lồ đường kính lên đến 200km. Vì bong bóng mà lạm phát, nên ở Mỹ ai ai cũng phải mua đất làm nhà riêng. Ở NY, ngủ lại khu trung tâm chỉ có vô gia cư.

Chính vì thế, Mỹ không sưởi bằng nhiệt năng thừa của các nhà máy điện, cũng rất khó sưởi than rẻ tiền, mà sưởi bằng dầu sưởi đắt gấp 10 lần than. 

Mỗi gia đình Mỹ bình thường phải có tối thiểu 2 xe hơi, 1 đi làm 1 đi chợ, với khoảng cách đi làm hàng trăm km.

Chính vì thế, tuy là đi xe ô tô có mui, nhưng Mỹ có tỷ số chết do tai nạn giao thông cao hơn nhiều Việt Nam.

Ở các nước khác người ta sưởi bằng nước nóng, đi bằng xe công cộng chạy điện.... đều lấy từ than hay hạt nhân rẻ tiền.

Tây Âu cũng bong bóng như Mỹ, còn Nhật bản quá chật nên bớt nạn nhà riêng. Chính vì thế, khi Nhật bản khủng hoảng giảm phát từ 2013 nhưng giá dầu chỉ giảm khi Mỹ giảm.

Như vậy, Mỹ tiêu thụ hàng năm gần 1 tỷ tấn dầu khí, trong đó 1 nửa là nhập khẩu. Mỹ nhậy cảm với giá dầu. Kinh tế Mỹ đang gượng lên là nhờ giá dầu thấp. Giá dầu lên Mỹ lại càng mất cạnh tranh.

Và cũng rút ra một điều là, Mỹ vẫn chưa giảm sản lượng nhập khẩu dầu từ Nga và Ả Rập. Mỹ vẫn ăn dầu rất khủng, Mỹ chưa khai thác thấm tháp bao nhiêu so với tiêu thụ của chính Mỹ.

Nguồn: Ở đây

5 nhận xét

13:31 1 tháng 1, 2015 Reply

cuộc chiến giữa Mỹ, châu âu với nga thì chưa biết được bên nào sẽ giành lợi thế hơn đâu, với một nền công nghiệp lớn như Mỹ và châu âu thì vấn đề dầu khí là một vấn đề quan trọng, trong khi đó nga đang nắm giữ cái này, nên cuộc chiến này sẽ còn nhiều gay cấn hơn nữa

13:36 1 tháng 1, 2015 Reply

giờ tôi tin một điều là mỹ và châu âu đang tìm những nguồn cung dầu khí cho mình, vì đây là một vấn đề quan trọng, nó phục vụ cho sự vận hành của kinh tế Mỹ và châu âu, nếu như Nga cắt giảm và có thể không cung cấp dầu khí cho châu âu nữa thì có lẽ châu âu là kẻ phải chịu hậu quả đầu tiên

13:43 1 tháng 1, 2015 Reply

nói chung là trong cuộc chiến này thì mỹ và châu âu đang rất bất lợi. Khi mà Mỹ và châu âu hi vọng có thể dùng sức mạnh của đồng đô la để có thế phá nền kinh tế của nước nga thì đã bị chính nga dùng đồng đô la đấy để phản pháo lại, và giờ Mỹ và châu âu phải chịu thiệt đầu tiên

13:49 1 tháng 1, 2015 Reply

Thiếu dầu khí thì tôi tin Mỹ cũng phải chết thôi, nên cuộc chiến này chưa nói trước được gì đâu, mặc dù Mỹ có lợi thế về đồng đô la và hệ thống đồng minh của mình nhưng Nga đã không bị mắc vào cái mưu sức mạnh của đồng đô la mà Nga đã xử dụng vàng là chủ yếu rồi, Mỹ đang rất gặp bất lợi

13:55 1 tháng 1, 2015 Reply

Bài viết của tác giả có thể nói là phân tích rất đúng tình hình hiện nay, cũng chiến giữa Mỹ châu âu và Nga vẫn chưa biết thế nào, nhưng mới bắt đầu thôi, cũng cho thấy Mỹ đã phải chịu những hậu quả đầu tiên rồi, khi mà nguồn cung dầu của họ từ nga đã bị cắt đi, và đồng đô la không còn giữ vững sức mạnh của nó nữa, khi nga đã chuyển sang dùng vàng chủ yếu

Đăng nhận xét

Cám ơn đã đọc bài viết!
- Mọi thắc mắc, gợi ý hoặc bình luận xin chia sẻ bên dưới hoặc Gửi thư hay Báo lỗi
- Hãy viết bằng tiếng Việt có dấu để mọi người dễ đọc hơn!
- Chèn link bằng thẻ: <a href="Link" rel="nofollow">Tên</a>
- Tạo chữ <b>đậm</b> <i>Ngiêng</i>
Thank You!