10/01/2016

Quan hệ Việt - Trung: "Những điều không thể nói ra"

Tác giả: Mõ Làng viết lúc 10/01/2016 | 10.1.16

Tiến sĩ Vũ Cao Phan

Có thể khẳng định, quan hệ hai nước Việt Nam và Trung Quốc là một mối quan hệ đặc biệt. Nó đặc biệt ở sự gần gụi, tương đồng. Không chỉ tương đồng về chế độ chính trị, về phương thức tổ chức xã hội và phát triển kinh tế trong thời kỳ hiện đại mà trước hết ở sự gần gụi láng giềng, ở sự gần gụi văn hóa, lịch sử. Ít nhất mối quan hệ này đã tồn tại từ khi lịch sử thành văn được ghi lại, hơn hai ngàn năm trước. Một ví dụ là ngay từ thời Tần Thủy Hoàng đã lưu truyền câu chuyện về tướng Lý Ông Trọng, một người to lớn dị thường và có tài thao lược của đất Giao Chỉ, làm đến chức Tư lệ hiệu úy của nước Tần, giúp Hoàng đế dẹp loạn miền Tây Vực khiến quân Hung nô còn khiếp oai ngay cả khi ông đã nằm xuống.

Làm cho nhân dân hai nước hiểu được, hiểu đúng mối quan hệ lịch sử này là một việc làm cần thiết, thậm chí rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay, khi mà những sự tranh chấp về lợi ích lãnh thổ có nguy cơ vượt khỏi tầm kiểm soát và phủ mây đen lên mối quan hệ ấy. Trong tinh thần đó, chúng tôi hoan nghênh loạt bài viết dưới mái chung: “Những điều không thể không nói ra” mà Tạp chí “Tri thức thế giới” của Trung Quốc đăng tải vào dịp này năm ngoái. Đó là các bài: “Lịch sử và sự thật: Diễn biến quan hệ Trung – Việt trước năm 1949” (Tôn Hồng Niên, Nghiên cứu viên Trung tâm Nghiên cứu lịch sử biên cương, Viện KHXH Trung Quốc) – “Quan hệ Trung – Việt từ 1949 đến nay” ( Vu Hướng Đông, Giám đốc Học viện Chủ nghĩa Mác, Chủ nhiệm Phòng Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Trịnh Châu) – “Những biến thiên trăm năm qua trong chiến lược ngoại giao với các nước lớn của Việt Nam” ( Tôn Hồng Niên, Vương Thâm, Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Trịnh Châu) – “Viện trợ Trung Quốc cho Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ” (Lục Đức An, Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Trịnh Châu) và“Vấn đề biên giới trên đất liền và trên biển giữa Việt Nam với các nước láng giềng Đông Nam Á” (Trương Minh Lượng, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Đại học Tế Nam).

ất cả được đăng trong số 14, ra tháng 7 năm 2011. Như cách đặt vấn đề và như chúng tôi có thể hiểu, các tác giả muốn vẽ lên một bức tranh chân thực về những gì diễn ra trước hết trong quan hệ Việt – Trung, và sau nữa là trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng, qua đó góp phần điều chỉnh nhận thức của người này người khác, ở phía bên này hoặc bên kia.Ý định ấy là tốt và cần thiết. Lời lẽ trong các bài viết cũng tương đối vừa phải, trừ vài ngoại lệ.

Chú thích: Những chữ để nghiêng trong bài này là trích từ “Những điều không thể không nói ra” hoặc từ các cuốn sách xuất bản ở Trung Quốc (TG).

Tuy nhiên, hoặc do quan điểm, nhận thức, hoặc do nguồn tư liệu dựa vào thiếu khách quan, nhiều nội dung trong loạt bài này đã không phản ánh sự thật, làm hỏng mục đích mà người viết có thể muốn đặt ra.

Vì một số lý do, trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi chưa có ý định trao đổi toàn bộ và triệt để các vấn đề mà “Những điều không thể không nói ra” đã đề cập. Chúng ta còn có nhiều dịp và nhiều cách để cùng nhau tìm đến sự thật.

                                                     *

1. Lịch sử thành văn của nước Việt – nghĩa là những điều được ghi lại trên giấy trắng mực đen – xuất hiện khá muộn, hàng ngàn năm sau công nguyên. Hai lý do chủ yếu: chữ viết xuất hiện muộn và cả một thiên niên kỷ mất độc lập được gọi là “thời kỳ Bắc thuộc” – một ngàn năm Bắc thuộc. Lịch sử Việt Nam trong những năm tháng này còn là một phần lịch sử Trung Hoa, điều dù muốn hay không cũng phải thừa nhận. Và dù muốn hay không cũng phải thừa nhận, với Việt Nam một ngàn năm ấy là một ngàn năm không bình yên, nói một cách khiêm tốn. Liệu có cần thiết phải nhắc lại những chuyện “ sát phu, hiếp phụ”, “bỏ xác cho hổ đói lên rừng bắt chim chả, chặt ngà voi; chịu để giao long ăn thịt xuống biển mò ngọc trai, kiếm đồi mồi” cung phụng các quan cai trị? Rồi một ngàn năm độc lập, những cuộc xâm lược từ phương Bắc đã để lại những gì tưởng chỉ cần nhắc đến một câu của thi hào Nguyễn Trãi thế kỷ thứ XV, “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn / Vùi con đỏ dưới hầm tai họa”, viết trong “ Đại cáo bình Ngô”. Những cuộc xâm lược của Tống, Nguyên, Minh, Thanh trong kỷ nguyên độc lập của Việt Nam đều hết sức khốc liệt, đâu có phải quan hệ giữa hai nước trong thời kỳ này“trên tổng thể là hòa bình, hữu nghị”. Tác giả của “Diễn biến quan hệ Việt – Trung trước năm 1949”chỉ thừa nhận một cuộc xâm lược đến từ phía Bắc, đó là cuộc xâm lược của nhà Nguyên trong thời kỳ này (và lịch sử chính thống của Trung Quốc cũng chỉ thừa nhận như vậy) còn thì “phần nhiều những cuộc xung đột và chiến tranh giữa hai nước là do giới phong kiến Việt Nam quấy nhiễu biên giới Trung Quốc gây ra”. Cần phải nói rõ những điều này. Một, chỉ một lần duy nhất nhà nước phong kiến Việt Nam có cuộc Bắc phạt và cũng chỉ với một mục đích duy nhất là phá cuộc chuẩn bị xâm lược Việt Nam của nhà Tống. Đó là vào ngay thời kỳ đầu sau Bắc thuộc, năm 1075, nhà Lý (Việt Nam) phát hiện nhà Tống (Trung Quốc) lập các tiền đồn tích trữ binh lương ở Quảng Tây nhằm chuẩn bị tiến đánh “Giao Châu” (nước Việt) nên đã xuất quân, đánh xong lập tức rút ngay về phòng ngự mà vẫn không tránh khỏi cuộc tiến quân ồ ạt sau đó của nhà Tống. Hai, có lẽ chỉ dựa vào chính sử do các triều đại phong kiến Trung Quốc để lại mà các tác giả của “Những điều không thể không nói ra” không thừa nhận có các cuộc xâm lược Việt Nam của Tống, Minh, Thanh. Bởi vì “chính sử” luôn tìm cách mô tả đấy là những cuộc hành binh khôi phục trật tự, lập lại ngôi vương chính danh được các triều đình phong kiến Trung Quốc thừa nhận (nhưng là những phế để, phế triều đã bị sóng triều lịch sử Việt Nam gom về bến rác). Sự thực như thế nào? Lấy ví dụ cuộc tiến quân dưới danh nghĩa “phù Trần, diệt Hồ” của nhà Minh đầu thế kỷ XV. “Phù Trần diệt Hồ” ở chỗ nào khi diệt xong cha con Hồ Quý Ly rồi liền bắt các kỳ hào, bô lão ký vào một tờ biểu dâng lên rằng: “Nay họ Trần không còn ai nữa, vả đất An Nam vốn là Giao Châu ngày trước, xin được đặt lại quận huyện như cũ” (theo “Minh sử”). Nhưng có một thực tế là con cháu nhà Trần vẫn nổi lên ầm ầm chống lại quân Minh, lập nên một triều đại được lịch sử gọi là “kỷ Hậu Trần” thì người Minh lại gọi là “giặc” và phái binh đàn áp! Một thời kỳ “Bắc thuộc mới” kéo dài 20 năm với chính sách đồng hóa quyết liệt (tất cả sử sách nước Nam đều bị thu hết về Kim Lăng), với sưu cao thuế nặng, bắt phu khai mỏ vàng mỏ bạc rồi “chim chả, ngà voi” tận thu tận diệt khiến dân tình vô cùng khổ sở. Phải một cuộc kháng chiến gian khổ máu xương dằng dặc 10 năm của Lê Lợi – Nguyễn Trãi cuối cùng mới đưa được “cuộc phù Trần” về bên kia biên giới. Làm sao có thể nói trong kỷ nguyên độc lập của Việt Nam ở thiên niên kỷ thứ hai, “giới thống trị Trung Quốc bấy giờ hoàn toàn không chủ động can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam” được? Và ngay trong thời kỳ được coi là giao kết hòa hiếu giữa hai nước trong quan hệ “tông phiên” thì các triều đình phong kiến Việt Nam vẫn luôn bị sách nhiễu, áp lực. Chỉ riêng việc đòi hỏi cung phụng, cống nạp – nhất là những sản vật quý hiếm – cũng trở thành gánh nặng tài chính cho nước Việt, gánh nặng khổ ải cho thứ dân, không thể nói là “không đáng kể”, “tổng giá trị (của các đồ cống nạp) luôn thấp hơn đồ “hồi tặng” (từ phía triều đình Trung Quốc)” được.

Năm 1950, khi đích thân tiếp và tiễn đoàn cố vấn quân sự của nước Trung Hoa nhân dân sang giúp Việt Nam kháng Pháp, Chủ tịch Mao Trạch Đông căn dặn: “Các đồng chí phải nói với nhân dân Việt Nam rằng tổ tiên chúng ta đã có lỗi với Việt Nam, chúng ta xin tạ tội và nguyện một lòng một dạ ra sức giúp Việt Nam đánh bại thực dân Pháp” (trích Hồi ký bằng tiếng Hán của các Cố vấn Trương Quang Hoa, Vũ Hóa Thẩm, Đặng Kim Ba). Thủ tướng Chu Ân Lai trong lần đầu tiên sang thăm Việt Nam năm 1955, việc đầu tiên mà ông làm là đến thắp hương Đền thờ Hai Bà Trưng, những nữ tướng Việt Nam kiệt xuất trong thế kỷ thứ nhất cầm quân nổi dậy chống quân xâm lược nhà Hán và đã anh dũng hy sinh. Thiết nghĩ không cần phải dẫn thêm những ý kiến phát biểu của các nhà lãnh đạo khác như Diệp Kiếm Anh, Vi Quốc Thanh … xung quanh vấn đề này.

Tuy nhiên, cũng cần phải khẳng định, mối quan hệ tổng thể giữa hai nước láng giềng Việt Nam và Trung Quốc suốt mấy ngàn năm lịch sử không phải là một bức tranh tối màu, nhất là quan hệ dân gian. Trong sự phát triển và trưởng thành của mình, người Việt, nước Việt đã tiếp thu và học tập được nhiều từ nền văn hóa – văn minh Trung Hoa. Đấy cũng là một trong nguyên nhân dẫn đến sự gần gụi, hiểu biết giữa nhân dân hai nước. Đấy cũng là thực tế hiển nhiên không thể phủ định. Không thể có chuyện giới nghiên cứu khoa học, nghiên cứu lịch sử Việt Nam trong trăn trở tìm về nguồn cội lại bỏ qua những giá trị xác định để thay bằng những lập luận“khoác lác”, “hư cấu”? Càng không thể tưởng tượng ra rằng nó có mục đích “đưa vào nội dung giáo dục quốc dân” để làm băng hoại quan hệ hữu nghị giữa hai nước, hai dân tộc.

2. Nửa sau của thế kỷ trước (thế kỷ XX), Việt Nam đã phải liên tục chiến đấu chống lại hai cuộc chiến tranh không cân sức: Kháng Pháp và kháng Mỹ. Cùng với nhân dân toàn thế giới, Trung Quốc đã có sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn, có hiệu quả về cả vật chất lẫn tinh thần cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Vào thời kỳ cao điểm, khi Mỹ trực tiếp đổ quân vào tham chiến – có lúc lên đến hơn nửa triệu – nhiều chính phủ và tổ chức nhân dân trên thế giới đã tuyên bố sẵn sàng gửi quân chí nguyện đến giúp đỡ Việt Nam, nếu được phía Việt Nam chấp nhận. Với tinh thần tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính và cũng xét tới các hệ lụy, Chính phủ Việt Nam không chủ trương nhận quân tình nguyện chiến đấu, đặc biệt là bộ binh, và đã bày tỏ sự cảm ơn chân thành của mình đến thiện chí năm châu. Những quân nhân nước ngoài có mặt ở phía Bắc Việt Nam lúc ấy bao gồm một số lượng hạn chế các cố vấn và chuyên gia quân sự Liên Xô trong các binh chủng kỹ thuật (tên lửa phòng không, không quân …), một vài biên đội không quân của CHDCND Triều Tiên mà lãnh đạo nước này mong muốn được đưa sang để thực tập chiến đấu. Chính phủ Trung Quốc cũng đã nhiều lần bày tỏ thiện chí sẵn sàng gửi quân tình nguyện đến Việt Nam trong các tuyên bố công khai cũng như trong những lần gặp gỡ trực tiếp lãnh đạo Việt Nam. Kết quả là đã dẫn tới các ký kết giữa hai nước về việc đưa bộ đội hậu cần (công binh) của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc vào giúp việc khắc phục giao thông bị phá hoại bởi cuộc chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ ở Miền Bắc. Trung Quốc cũng đề nghị đưa vào cả bộ đội pháo cao xạ để bảo vệ lực lượng công binh tác nghiệp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất quan tâm đến lực lượng này. Người yêu cầu các nhà lãnh đạo Quân đội Việt Nam không đưa bộ đội Trung Quốc đến những vùng quá khó khăn ác liệt vì bạn chưa quen. Thời kỳ đó, không quân Mỹ chia chiến trường Bắc Việt Nam thành ba vùng tác chiến: Vùng đánh phá tự do suốt ngày đêm từ Thanh Hóa trở vào vĩ tuyến 17, là vùng ác liệt nhất. Vùng thứ hai, vùng đánh phá có trọng điểm bao gồm Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và các vị trí chiến lược phía nam đường số 5. Vùng thứ ba, đánh phá có chọn lọc, là các tuyến giao thông phía bắc đường số 5. Chấp hành chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bộ đội Trung Quốc đã được bố trí tác nghiệp trong vùng từ phía bắc đường số 5 đến biên giới Việt – Trung. Các lực lượng chí nguyện Quân Giải phòng Trung Quốc đã chiến đấu, phục vụ chiến đấu dũng cảm, quên mình vì nghĩa lớn, đồng cam cộng khổ với nhân dân Việt Nam, không chỉ góp phần khắc phục đường sá bị phá hoại, giúp Việt Nam làm mới nhiều con đường, nhiều công trình mà còn tham gia chiến đấu, trực tiếp bắn rơi hơn 100 máy bay Mỹ. Tổng cộng đã có hơn 310.000 lượt bộ đội Trung Quốc có mặt trên chiến trường miền Bắc Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1968 (nói chung, 6 tháng thay quân một lần) trong đó hơn 1000 chiến sĩ hy sinh (hơn 4000, bao gồm cả các chiến sĩ bị thương). Theo đề nghị của phía Trung Quốc, các liệt sĩ Trung Quốc đã được chôn cất tại trên 40 nghĩa trang ở Việt Nam và hiện nay vẫn được chính quyền và nhân dân các địa phương coi sóc, tu tạo.

3. Phía Trung Quốc từng xuất bản một cuốn sách công bố 7 lần xuất quân ra nước ngoài của Quân Giải phóng Nhân dân từ sau ngày thành lập nước CHND Trung Hoa, trong đó quá nửa là xuất quân sang Việt Nam. Điều đau lòng là, hầu hết những lần xuất quân đến Việt Nam ấy đều được mô tả là để “đánh trả”, “trừng phạt” cái quốc gia mà Trung Quốc từng coi là anh em (đến bây giờ có lẽ vẫn là “anh em” vì lãnh đạo hai bên nói chung vẫn ôm hôn nhau theo kiểu “các nước anh em” thường làm).

Chúng tôi sẽ không đề cập đến ở đây bản chất các cuộc “đánh trả” và “trừng phạt” ấy – xin trở lại một dịp khác, nếu cần thiết – mà chỉ xin trao đổi những gì liên quan được nêu ra từ các bài viết trong “Những điều không thể không nói ra”.

Thứ nhất, phải khẳng định rằng, trừ cuộc “tiến quân” trong giai đoạn 1965 -1968 nhằm chi viện nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ mà tôi vừa đề cập, tất cả các cuộc tiến quân khác (1974: đánh chiếm Hoàng Sa – Trung Quốc gọi là Tây Sa; 1979: Chiến tranh biên giới Việt – Trung; 1983 - 1984: đánh chiếm các điểm cao chiến lược ở tỉnh Hà Giang - Trung Quốc gọi là Lão Sơn (và xung quanh); 1988: đánh chiếm một số đảo ở Trường Sa – Trung Quốc gọi là Nam Sa) đều do Trung Quốc âm thầm khởi binh rồi bất ngờ đánh úp, nhằm lúc đối phương chưa sẵn sàng chuẩn bị. Tất cả đều giống nhau, không ngoại lệ. Làm gì có cái gọi là “sự xâm lăng, khiêu khích từ phía Việt Nam”? Mưu kế chiến tranh từ thời Tôn Tử đã chẳng lạ gì phương sách mà sau này L.Hart và nhiều tác gia quân sự đông tây phải ngả mũ, “Nguyên cớ ư ? Ở ta!”

Thêm nữa, sau năm 1975, mặc dù giành được nguyện vọng ngàn đời là độc lập dân tộc, thống nhất non sông, Việt Nam hoàn toàn bị kiệt quệ bởi ba mươi năm chiến tranh (nền kinh tế Việt Nam bị tụt đến đáy trong thập niên 75 - 85 là một minh chứng). Lo ăn, lo mặc cho dân mình còn chưa xong lẽ nào Việt Nam còn muốn mang sức kiệt đi đánh nước người? Mà đó lại là quốc gia hùng mạnh Trung Quốc và còn hơn thế nữa, một đất nước đã có sự ủng hộ to lớn cho Việt Nam trong kháng chiến! Ơn vừa mới đó mà đã quên được ư? Trọng ơn là truyền thống của dân tộc này, không ai có thể bới ra được chứng cứ ngược lại!

Và do đó phải thừa nhận là Việt Nam đã bị bất ngờ khi cuộc chiến tranh tháng 2/1979 xảy ra. Có thể có xung đột cường độ thấp nhưng là cả một cuộc chiến tranh với sự tiến quân ồ ạt của hàng chục sư đoàn đối phương trên toàn tuyến biên giới là điều chưa được phía Việt Nam tiên liệu.

Thứ hai, cần phải nói rõ một điều: Việt Nam chưa bao giờ tuyên bố Trường Sa và Hoàng Sa (Nam Sa và Tây Sa) là của một quốc gia nào khác ngoài Việt Nam. Và càng không có việc Việt Nam đã “hoàn toàn thay đổi lập trường” về vấn đề này. Câu chuyện như sau:Năm 1958, sau khi Trung Quốc tuyên bố chủ quyền về lãnh hải 12 hải lý, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gửi thư cho Thủ tướng Chu Ân Lai bày tỏ sự ủng hộ tuyên bố ấy, chỉ đơn giản như vậy. Sự ủng hộ đó là thiện chí nếu tính tới cuộc xung đột giữa nước Trung Hoa nhân dân với Đài Loan trong vùng Kim Môn, Mã Tổ lúc bấy giờ. Còn trong năm 1974, khi xảy ra sự việc Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa (Tây Sa), chính các bên đang quản lý thực tế vùng biển này là Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã lên tiếng phản đối.

Thứ ba. Bắt đầu từ sự xâm lược của thực dân Pháp thế kỷ XIX lập nên xứ Đông Dương thuộc Pháp rồi tiếp đến là cuộc chiến tranh do Mỹ gây ra giữa thế kỷ XX mà mà vận mệnh của ba nước Đông Dương gắn chặt với nhau: chung một kẻ thù, chung một mục đích giải phóng và độc lập dân tộc. Trong cuộc đấu tranh chung, Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của nhân dân Lào, nhân dân Campuchia anh em và Việt Nam cũng hết lòng vì đất nước và nhân dân bạn. Làm theo lời dạy đầy ý nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Giúp bạn là giúp mình”, hàng chục vạn chiến sĩ Quân tình nguyện Việt Nam đã không tiếc xương máu chiến đấu quên mình trên đất nước Lào và đất nước Campuchia, không nhằm một mục đích tiểu bá, đại bá hay Liên bang Đông Dương nào hết. Một khi chiến tranh kết thúc, tình hình yên ổn trở lại và được nhân dân bạn cho phép, tất cả các lực lượng này đã rút hết về nước, bao gồm cả những liệt sĩ đã nằm xuống trên đất Lào, Campuchia cũng được quy tập về đất mẹ Việt Nam (con số được quy tập đến nay đã là gần 50.000 liệt sĩ). Việt Nam, Lào, Campuchia ngày nay lại cùng đoàn kết, giúp đỡ nhau phát triển đất nước mình, với tư cách là những quốc gia độc lập, có chế độ chính trị riêng biệt, điều mà cả thế giới đều thấy rõ.

Đáng ngạc nhiên là trong bài “Vấn đề biên giới trên bộ và trên biển giữa Việt Nam và các nước Đông Nam Á”, tác giả gợi lại vấn đề không có thực là “lãnh thổ K.K.K” và “một phần đất đai Campuchia bị mất vào tay Việt Nam”. Với mục đích gì vậy? Tác giả có biết rằng trong tháng 8 năm 2012 vừa qua chính đại diện của nước CHND Trung Hoa tại Liên Hợp quốc đã bỏ phiếu bác bỏ yêu cầu được có tiếng nói tại tổ chức quốc tế này của cái gọi là “phong trào K.K.K”? Sự trung thực cộng sản – nếu có thể gọi như vậy – là ở chỗ nào?

Thứ tư. Có những sự thực ít người biết đến, nhưng chẳng lẽ những người chủ trì một tạp chí có tên tuổi trong ngành như “Thế giới tri thức” lại ở trong trường hợp như vậy? Tôi muốn đề cập câu chuyện về điểm cao khống chế 1509 mà Trung Quốc gọi là Lão Sơn. Trong bài “Quan hệ Việt – Trung từ năm 1949 đến nay”, tác giả đã mô tả những trận đánh đẫm máu, ác liệt để giành khu vực này vào năm 1984 như là cuộc chiến đấu vinh quang chống lại sự xâm lược của quân đội Việt Nam. Hơn nữa, chúng tôi còn được biết, nơi đây nay đang trở thành một điểm du lịch của phía Trung Quốc với những trưng bày và thuyết minh bất chấp chân lý, bất chấp mọi sự nhẫn nhịn, trên thực tế phá hoại quan hệ Việt-Trung mà các bạn bày tỏ muốn vun đắp. Liệu có cần phải đánh thức “sự thật lịch sử”?

Cuối cùng, về câu chuyện hoang đường “Việt Nam bắt nạt Trung Quốc”, “Việt Nam luôn áp dụng phương châm đối đầu trực diện với Trung Quốc, một bước không lùi”, để thay lời kết luận, tôi xin kể hai chuyện nhỏ : Tháng 1/1979, khi quân đội Việt Nam mở chiến dịch phản công đánh trả cuộc xâm lấn toàn diện của chế độ Pôn Pốt với một tốc độ tiến quân mà các hãng thông tin trên thế giới mô tả là nhanh như điện sẹt, các mũi tiến công và vu hồi đã sẵn sàng khép chặt biên giới Campuchia – Thái Lan trong “tích tắc”, thì lập tức nhận được lệnh buông lỏng, nhờ đó mà bộ sậu lãnh đạo Khơme đỏ chạy thoát. Nhưng mục đích đã đạt được: Không để một ai trong số hàng ngàn chuyên gia cố vấn quân sự và dân sự “người nước ngoài” bị kẹt lại hoặc bị bắt giữ. Câu chuyện thứ hai là tháng 2 năm ấy (1979), bị bất ngờ bởi cuộc tấn công của Quân đội Trung Quốc, các lực lượng phòng ngự Việt Nam tạm thời bị đẩy lui khỏi tuyến biên giới. Nhưng ngay sau cuộc phòng ngự, bộ đội Việt Nam đã tổ chức phản công và một chiến dịch – chiến lược tiến công quy mô với lực lượng mạnh cả xung lực lẫn hỏa lực nhằm vào đối phương đang tập trung ở một thành phố biên giới đã được triển khai. Mọi sự đã sẵn sàng và đây chắc chắn là một đòn giáng trả mạnh mẽ, gây thương vong nặng nề. Chỉ ít giờ trước thời điểm nổ súng, chiến dịch được hủy bỏ khi phía Trung Quốc tuyên bố bắt đầu cuộc triệt thoái.

Thẳng thắn và mà nhìn nhận, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc bản chất là một mối quan hệ tích cực và cần phải như vậy. Xin được đề cập đến vào một dịp khác. Bài viết này của tôi không có mục đích tranh luận, ngay cả về phương diện học thuật. Nó đơn giản chỉ là“những điều không thể không nói ra”, không thể không làm rõ vậy thôi.

Nguồn: http://vnics.org.vn/Default.aspx?ctl=Article&aID=359

31 nhận xét

22:56 10 tháng 1, 2016 Reply

Chúng ta và Trung Quốc đã có quan hệ song phương rất nhiều năm trong lịch sử...Có lẽ có viết nhiều thêm những trang sử thì cũng không thể nào làm phong phú, đa dạng hơn mối quan hệ hai nước. Tất nhiên thăng trầm trong đó là luôn có. Có rất nhiều các câu chuyện không được nói ra từ mối quan hệ này bởi đơn giản lịch sử cũng không muốn nhắc đến và chúng ta cũng không nên để ý làm gì. Bởi tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại. Biết bản chất của Trung Quốc là chúng ta biết được những nhận thức sâu sắc về một đất nước đầy những mưu mô...Chúng ta phải đề phòng và phải có nhiều những chiến lược hợp lý để vừa là đối tác nhưng cũng vừa thể hiện được tầm của mình...

23:02 10 tháng 1, 2016 Reply

Quan hệ giữa ta và TQ nó đặc biệt lắm, nó đặc biệt vì nó cực kì phức tạp. Nó vừa là mối quan hệ láng giềng với nhiều tương đồng về văn hóa, tín ngướng cho đến hệ tư tưởng. Nhưng người láng giềng này lại không thực sự là tử tế khi sống hai mặt với chúng ta... Chính vì thế mà người ta mới nói là đối với TQ, Việt Nam ta phải vô cùng khéo léo, làm sao vừa giữ được mối quan hệ hợp tác hữu nghị, bên cạnh đó vẫn đảm bảo được độc lập chủ quyền của dân tộc.
Vì vậy nên đừng có dại mà tỏ ra hung hăng làm gì, càng làm to chuyện thì càng thiệt thân mà thôi ..
Nhớ sử xưa chép lại, khi mà Nguyễn Huệ đánh xong giặc phương Bắc, khí thế tướng sĩ đang hừng hực tưởng như có thể tiến lên mà chiếm, nhưng lại chọn giải pháp là cử xứ giả sang cầu hòa... Vậy nên mới bảo, nên biết thân biết phận thì hơn, không khôn khéo chỉ tổ rước họa vào thân mà thôi :v

23:15 10 tháng 1, 2016 Reply

Trong lịch sử tồn tại, có thể nhìn thấy mối quan hệ "anh-em" giữa Việt Nam và Trung Quốc. Nhìn bên ngoài có vẻ mối quan hệ này gắn chặt, tốt đẹp như những lời giới cầm quyền Trung Quốc nói nhưng thực ra bên trong là việc một con cá kình như Trung Quốc sẵn sàng cắn lấy miếng mồi xung quanh, một trong số đó có Việt Nam. Điều đó khẳng định qua lịch sử hàng ngàn năm, Trung Quốc vẫn giữ cái tham vọng thôn tính Việt Nam, và chưa thực sự bao giờ làm được, Việt Nam vẫn vững bước một cách kì diệu.
Và đến thời điểm hiện tại, khi mà mối quan hệ đó người ta thấy rõ được "bản chất" của người "anh" kia thì đã hiểu ra rằng với Trung Quốc, Việt Nam cũng luôn 2 mặt, luôn đề phòng và cũng chưa bao giờ coi Trung Quốc là người tốt, cái khéo của Việt Nam chính là đó, và thực sự thì mình thấy Việt Nam làm rất tốt việc đó, chỉ hy vọng một ngày Việt Nam giầu mạnh hơn, để "Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
Song hào kiệt thời nào cũng có" :)

23:33 10 tháng 1, 2016 Reply

Không thể phủ nhận rằng, Trung Quốc đã giúp đất nước Việt Nam ta rất nhiều. Điển hình là trong giai đoạn kháng chiến chống các thế lực đế quốc tư bản, đặc biệt là Pháp, Mỹ... Giữa ta và Trung Quốc có nhiều nét tương đồng về con đường, về chế độ hiện hành. Nhưng có lẽ chúng ta ko bao giờ quên được những đau thương mà ta phải nhận lấy từ bản chất bành trướng đã ăn mòn vào xương, vào tủy của các nhà cầm quyền Trung Quốc từ trước đến nay.

23:38 10 tháng 1, 2016 Reply

Mối quan hệ Trung Quốc - Việt Nam là một mối quan hệ đặc biệt, với nhiều diễn biến thăng trầm. Lúc thịnh lúc suy. Nhưng tôi e rằng với những gì Trung Quốc đang làm trên biển đông của ta, với những hoài niệm của 14 cuộc chiến tranh xâm lược, với những bài học thâm độc, tàn bạo mà chúng dạy cho ta thì tôi vẫn luôn ghê sợ người anh em này... Nhớ vụ ở Gạc Ma mà ko khỏi thấy đắng nghẹn cổ họng, lòng đau như cắt, 64 chiến sĩ của chúng ta đã thà hi sinh chứ ko chịu mất đảo. Những kẻ tàn bạo đã xả súng vào họ ko thương tiếc...

01:08 11 tháng 1, 2016 Reply

tình hình giờ đây đã trở nên phức tạp hơn bao giờ hết, Trung Quốc đang ngày càng thể hiện rõ hơn âm mưu của mình còn các nước láng giềng chúng ta bao năm nay như Campuchia cũng đã bị chúng kiểm soát, Mỹ thì tuyệt nhiên không thể theo họ được vì vậy chúng ta chỉ còn cách tự cứu lấy mình thôi cứ không thể trông mong gì nhiều vào các nước khác, lịch sử đã chứng minh một điều rất rõ ràng là thắng lợi luôn thuộc về phía chính nghĩa. Không thể phủ nhận rằng, Trung Quốc đã giúp đất nước Việt Nam ta rất nhiều. Nhưng có lẽ chúng ta ko bao giờ quên được những đau thương mà ta phải nhận lấy từ bản chất bành trướng đã ăn mòn vào xương, vào tủy của các nhà cầm quyền Trung Quốc từ trước đến nay.

02:00 11 tháng 1, 2016 Reply

những năm gần đây, lòng tin về quan hệ hai Đảng, hai nước trong một bộ phận quần chúng nhân dân, cán bộ, đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam đã bị suy giảm bởi những tranh chấp, bất đồng giữa hai nước về vấn đề trên biển cũng như việc một số thỏa thuận hợp tác giữa hai nước không được thực hiện đầy đủ. bất đồng giữa hai nước về vấn đề Biển Đông là thực tế, nhưng quan trọng nhất là hai bên phải tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau, kiểm soát tốt tình hình, phải thực hiện nghiêm túc những thỏa thuận và nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước, thông qua đàm phán giải quyết các mâu thuẫn một cách thỏa đáng, không có hành động làm phức tạp và mở rộng tranh chấp, không theo đuổi mục tiêu quân sự hóa ở biển Đông

08:53 11 tháng 1, 2016 Reply

Đất nước ngàn năm văn hiến của chúng ta cũng đã phải chịu một nghìn năm đô hộ của bọn phong kiến phương Bắc mà cụ thể ở đây là Trung Quốc thì văn hóa, đời sống của chúng ta chịu ảnh hưởng rất lớn từ nền văn hóa của họ; những yếu tố liên quan đến lịch sử cho thấy mối quan hệ giữa VN và TQ là một mqh khách quan

16:22 11 tháng 1, 2016 Reply

Từ xưa đến giờ nước lớn luôn o ép nước bé là chuyện đương nhiên. Cũng giống như Đại Việt đi xâm chiếm Champa, Chân Lạp, ép buộc Ai Lao, Lão Qua lệ thuộc mình. Đất của ai thì người đó cố mà giữ thôi. Trung Quốc nó to, nó lớn, nó đánh mình thì mình cũng phải chịu, cố mà chống trả. Lịch sử cho thấy mấy nghìn năm qua có bao giờ Trung Quốc chịu để Việt Nam sống yên ổn đâu. Và lịch sử cũng cho thấy người Việt chưa bao giờ chịu khuất phục bởi người Trung Quốc.

16:24 11 tháng 1, 2016 Reply

Việt Nam không quên và luôn muốn tạo những quan hệ hòa bình, thân thiện giữa Việt Nam - Trung Quốc và Việt Nam cũng không quên những gì Trung Quốc đã giúp Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước. Nhưng thực tế là từ trong quá khứ cho đến hiện nay thì TQ luôn nhắm nhe Việt Nam và họ luôn là người cố tình gây hấn tạo ra căng thẳng giữa hai nước từ cuộc chiến tranh biên giới 1979 và hiện nay là việc Trung Quốc đang xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam trên hau quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

16:36 11 tháng 1, 2016 Reply

Tôi có mấy người bạn Trung Quốc, họ thực sự rất tốt, rất hiền lành. Trong họ luôn có niềm tự tôn dân tộc nhưng luôn sống rất chân thành. Tôi nghĩ người dân thường Trung Quốc phần nhiều cũng vậy. Chỉ có một số kẻ lãnh đạo luôn muốn bành trướng, thể hiện sự hung hãn của mình. Hoặc đơn giản là nội bộ rối ren nên muốn đẩy dư luận ra ngoài.

18:36 11 tháng 1, 2016 Reply

Người Trung quốc cũng như tất cả con người trên thế giới đều có người tốt, người xấu. Nhưng nhìn một cách bao quát hơn là chúng ta nên chung sống hòa bình với các nước láng giềng để cùng nhau phát triển kinh tế-xã hội, an ninh quốc phòng. Chứ không phải là suốt ngày mâu thuẩn, hiềm khích dẫn đến mối quan hệ song phương không tốt.

19:09 11 tháng 1, 2016 Reply

Xét cho cùng thì người Trung Quốc vẫn là người Trung Quốc, người Việt vẫn là người Việt. Họ không có cùng dòng máu với mình thì sẽ chẳng bao giờ xót thương cho mình. Tốt hơn hết là cứ phải tự lực tự cường. Không trông chờ vào sự giúp đỡ từ họ và luôn đề phòng khi chúng có ý định xâm lăng.

19:13 11 tháng 1, 2016 Reply

Người Trung Quốc hàng nghìn năm nay luôn tìm cách đồng hoá chúng ta mà không được. Trần Bình Trọng đã từng nói "ta thà làm quỷ nước Nam chứ không làm vương đất bắc". Trung Quốc bao đời nay hăm doạ có, dụ dỗ có, có khi lại đối xử rất tốt nhưng thực chất cũng chỉ phục vụ mục đích của họ. Nên nhớ Trung Quốc dù cung cấp khí tài đạn dược cho ta rất nhiều trong kháng chiến chống Mỹ nhưng chúng không bao giờ muốn ta được thống nhất. Chiêu trò đó đã thành công ở Triều Tiên.

19:23 11 tháng 1, 2016 Reply

Trung Quốc từ xưa đến giờ mới chỉ giúp ta 2 lần, còn đâu toàn là quá khứ xâm chiếm, đô hộ. Mà cả hai lần đó cũng không phải chúng thực lòng. Lần đầu tiên khi ta đánh Điện Biên Phủ, Trung Quốc viện trợ chủ yếu là do lệnh của Liên Xô. Toàn bộ khí tài sau khi Liên Xô giải giáp vũ khí đạo quân Quan Đông của Nhật ở Trung Quốc được lệnh cung cấp cho chiến trường Việt Nam đánh Pháp. Sau đó khi Mỹ vào, vì muốn tạo vùng đệm với Mỹ nên Trung Quốc mới tích cực hỗ trợ ta đánh Mỹ. Tuy nhiên họ chỉ giúp nửa vời, không bao giờ muốn ta giải phóng miền Nam.

19:35 11 tháng 1, 2016 Reply

Từ thời xa xưa cho đến bây giờ thì Trung Quốc chưa bao giờ từ bỏ ý định xâm chiếm nước ta , chúng muốn biến nước ta thành một sân sau cho chúng để chúng có thể làm đó là một bia đỡ đạn cho chúng trước mọi âm mưu hiểm họa . Biết rõ là thế nhwungx chúng ta không thể cắt đít tình bằng hữu với Trung Quốc mà phải hài hòa !

19:44 11 tháng 1, 2016 Reply

đúng như tác giả đã nói quan hệ giữa hai nước là một mối quan hệ đặc biệt, điều này đã được thể hiện rất rõ cả trong quá khứ lẫn hiện tại, không thể phủ nhận rằng Trung Quốc đã nhiều lần giúp đỡ chúng ta trong quá khứ chúng ta không quên những lần như thế nhưng những tội ác mà họ gây ra cho đất nước chúng ta còn khủng khiếp hơn như thế gấp nhiều lần, nghìn năm Bắc thuộc nghìn năm bị chúng đồng hóa, rồi bao nhiêu cuộc xâm lược biên giới mà chúng gây ra và gần đây là sự bành trướng của chúng trên biển Đông, đúng là chúng ta vẫn cần hợp tác với chúng vì vẫn còn là láng giềng nhưng cũng cần phải chủ động trước những động thái của người Trung Quốc không nên quá chủ quan để mắc phải những sai lầm đáng tiếc có thể xảy ra.

19:47 11 tháng 1, 2016 Reply

Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc là chủ đề nóng bỏng hơn 4000 năm lịch sử Việt Nam cho dù thời đại nào cũng đều mang tính thời sự. Là hai nước láng giềng, có chung biên giới trên bộ và trên biển, lại có quá trình gắn bó tương tác về văn hóa lịch sử, cũng như các cuộc chiến tranh qua lại giữa hai nước. Quan hệ Việt Trung là mối quan hệ đặc biệt, phức tạp và vô cùng nhạy cảm bao gồm cả "những điều không thể nói ra" là một mối quan hệ "vừa hợp tác, vừa đấu tranh".

19:57 11 tháng 1, 2016 Reply
Nhận xét này đã bị tác giả xóa.
19:58 11 tháng 1, 2016 Reply

Việt Nam luôn luôn coi Trung Quốc là đối tác chiến lược toàn diện, việc 2 nước duy trì tin cậy chính trị và tăng cường hợp tác trên đa phương diện là phù hợp với nguyện vọng và lợi ích của nhân dân, đất nước của 2 nước. Còn vấn đề về biển đông cần 2 nước cùng nhau tháo gỡ các vướng mắc, tôn trọng chủ quyền lãnh thổ và lợi ích chính đáng của mỗi nước. Vấn đề hợp tác về mọi mặt để giúp đất nước ta ngày càng phát triển nhưng vẫn phải đảm bảo là độc lập tự chủ và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia chứ không phải là như bọn rận chủ phá hoại đất nước tung các tin xuyên tạc bịa đặt là việt nam là lệ thuộc nước khác. Mối quan hệ hợp tác chiến lược Việt - Trung cần tiến xa hơn, giữ đúng quan điểm chiến lược và dài hạn nữa trong tương lai.

22:06 11 tháng 1, 2016 Reply

Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc là chủ đề nóng bỏng trong hơn 4.000 năm lịch sử của Việt Nam, cho dù thời đại nào đều mang tính thời sự. Là hai nước láng giềng, chung biên giới trên bộ và trên biển, lại có quá trình gắn bó tương tác về văn hóa lịch sử, cũng như các cuộc chiến tranh qua lại giữa hai nước, đã làm cho Quan hệ Việt Trung trở nên vô cùng phức tạp và nhạy cảm. Có thể nói là vừa hợp tác, vừa đấu tranh. Có những thứ tốt đẹp cần giữ gìn phát huy, cũng có những thứ cần cảnh giác đâu tranh bảo vệ.

22:44 11 tháng 1, 2016 Reply

Quan hệ Việt - Trung là một quan hệ khá là phức tạp và đã trải qua hàng nghìn năm lịch sử có những lúc thịnh suy khác nhau. Có những lúc trong lịch sử ta đã trở thành thuộc địa và bộ phận của các chế độ phong kiến phương Bắc nhưng chúng ta luôn cố gắng duy trì và giữ gìn bản sắc dân tộc, tránh sự mai mòn và muốn tiêu vong những giá trị của dân tộc ta, có những lúc trong lịch sử kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Trung Quốc đã giúp đỡ chúng ta rất nhiều, đó là những sự thật lịch sử không thể chối từ!

22:58 11 tháng 1, 2016 Reply

"Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
Song hào kiệt thời nào cũng có."
Nguyễn Trãi đã viết trong Bình Ngô đại cáo như vậy là để thấy rằng quan hệ Việt Nam - Trung Quốc đã có những bước thăng trầm trong suốt tiến trình lịch sử, nhưng dù là thời nào, đời nào thì mỗi nước vẫn có những thế mạnh riêng. Cho đến ngày nay, khi tình hình quốc tế và thời đại đã có những thay đổi lớn lao, vị thế của cả hai nước đều được nâng tầm, vì thế quan hệ song phương cũng có những bước tiến đáng kể. Trên cơ sở hợp tác hai bên cùng có lợi, không xâm phạm lợi ích, quyền độc lập, tự chủ; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Cùng hướng tới một tương lai hòa bình, ổn định. Có như vậy thì nhân dân của hai quốc gia mới có cuộc sống trong hòa bình,tự do, dân chủ, hạnh phúc.

14:15 12 tháng 1, 2016 Reply

sống gần ông Trung Quốc thì sợ lắm, một láng giềng hết sức thâm hiểm, mặc dù chúng ta và trung quốc có nhiều nét tương đồng nhưng chúng ta và trung quốc lại có những cách nghĩ khác nhau về mối quan hệ về con đường đi lên của đất nước, trung quốc thì lấy mối quan hệ đó để nhằm làm hại nước ta, và đi gây hấn với nước khác còn ta hòa bình là trên hết

14:20 12 tháng 1, 2016 Reply

để giải quyết mối quan hệ với trung quốc không phải là vấn đề đơn giản, bởi lẽ trung quốc cũng là nơi mà chúng ta cần giữ lấy, vì ở đấy cũng có những nguồn lợi của chúng ta, nhưng mà cũng cần phải hết sức khôn khéo khi ở gần gã láng giềng như thế này, phải luôn luôn cảnh giác, từ xa xưa đến nay có triều đại nào, chính quyền nào của trung quốc mà không nhòm ngó ta đâu

14:32 12 tháng 1, 2016 Reply

Từ xưa đến nay, lịch sử đã chứng minh Việt Nam và Trung Quốc có mối quan hệ phức tạp và đặc biệt. Là 2 nước láng giềng nhưng từ xưa đến nay Trung Quốc không ít lần cậy lớn bắt nạt nhỏ, tiến hành các cuộc xâm lược nhằm thôn tính Việt Nam. Hiện nay cũng vậy, mặc dù mối quan hệ giữa 2 nước vân đang rất tốt đẹp nhưng Trung Quốc vẫn có những hành động không đẹp như những gì đang làm trên Biển Đông. Phải thẳng thắn nói trong quan hệ với Trung Quốc Việt Nam phải thật cẩn trọng.

22:02 12 tháng 1, 2016 Reply

Lịch sử ngàn năm dựng nước và giữ nước của chúng ta đã gắn liền với người láng giềng to xác và xấu tính. Người ta có thể thay đổi được hàng xóm láng giềng chứ đâu ai đổi được sông được núi. Việt Nam và Trung Quốc là hai dân tộc núi liền núi, sông liền sông đó là điều không thể thay đổi và chúng ta cũng hiểu quá rõ người láng giềng, ngoài mặt thì bạn bè, anh em, đồng chí,... nhưng trong lòng thì nham hiểm, luôn trực chờ đâm sau lưng mình bạn nhát. Cả nghìn năm đô hộ, rồi bao lần kiếm cớ xâm lược, lấn chiếm bờ cõi, không làm được thì chuyển sang chơi xấu, phá hoại kinh tế, xã hội... kể ra thì không biết bao giờ mới hết. Thế nhưng, họ là nước lớn, chúng ta là nước bé, lại là láng giềng sát vách không thể tránh khỏi sự phụ thuộc ít nhiều. Nhất là hai nước lại cùng chung chế độ CNXH, việc hợp tác, đoàn kết để tạo sức mạnh chống kẻ thù phá hoại là điều cần thiết. Trong xu thế ngày nay, Đảng ta đã xác định rõ đối tác, đối tượng trong mỗi mối quan hệ với các nước ngoài, có thể là kẻ thù, là kẻ phá hoại ta trong lĩnh vực này, thời điểm này nhưng lại là bạn bè, đối tác của chúng ta ở nhiều khía cạnh khác. Vì vậy chúng ta cần hết sức tỉnh táo để tận dụng thời cơ hợp tác phát triển nhưng vẫn đảm bảo chủ quyền lãnh thổ và an ninh quốc gia.

23:34 12 tháng 1, 2016 Reply

Quả thực là trong mối quan hệ Việt Nam- Trung Quốc là một mối quan hệ vô cùng đặc biệt và khó có thể nói hết. Hẳn là không hề giống mối quan hệ quốc tế nào với bất kỳ quốc gia nào

20:09 21 tháng 1, 2016 Reply

tinh thần yêu nước của tuổi tre là rất đang hoan nghênh,tuy nhiên chúng ta cũng pahir nhìn nhận,tai sao chung ta,đặc biệt là giởi trẻ có tâm lý như vậy.phải chăng chính là do sự bá quyền của trung quốc,sự hung hăng của trung quốc.chúng ta cần pahir giải thích cho thế hệ trẻ biết,việc bá quyền là do các nahf lãnh đọa trung quốc chứ không pahir do nahan dân trung quốc.tôi tin chắc rằng nahan dân trung quốc cũng như chúng ta không ai muốn chiến tranh.vì chiến tranh là sự đau thuwong mất mát.hai dân tộc đều đã từng trải qua những cuộc chiến khốc liệt ở thế kỉ 20 nên hơn ai hết nhân dân 2 dân tộc hiểu giá trị của hai chữ hòa bình

21:37 27 tháng 1, 2016 Reply

Tính ra càng như thế này thì làm con cháu quên đi rằng biển đảo quê hương đang bị họ chiếm trái phép. Những người cộng sản trung quốc đang biến tấu đi theo một hướng khác. Họ không phải là anh em đồng chí với VN mà là đối tác đối tượng làm ăn và đề phòng

17:53 1 tháng 2, 2016 Reply

Đối với Trung Quốc, chúng ta phải xác định đó vừa là đối tác, vừa là "đối tượng". Lúc này đang hòa bình cần tranh thủ để hợp tác làm ăn phát triển kinh tế nhưng cũng cần tính đến biện pháp lâu dài giảm bớt sự chênh lệch cán cân thương mại Viêt-Trung, giải quyết ổn thỏa tranh chấp. Chỉ có thế ta mới giữ được độc lập chủ quyền và phát triển đất nước

Đăng nhận xét

Cám ơn đã đọc bài viết!
- Mọi thắc mắc, gợi ý hoặc bình luận xin chia sẻ bên dưới hoặc Gửi thư hay Báo lỗi
- Hãy viết bằng tiếng Việt có dấu để mọi người dễ đọc hơn!
- Chèn link bằng thẻ: <a href="Link" rel="nofollow">Tên</a>
- Tạo chữ <b>đậm</b> <i>Ngiêng</i>
Thank You!